- Tranh chấp gì? "Trần Văn M"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Trần Văn M, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1975.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2024/QĐ-TA | Gia Nghĩa, ngày 20 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Bà Mai Đoàn Minh Hương.
Thư ký phiên họp: Ông Lương Quốc Chương.
Ngày 20 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 12/2024/QĐ-TA ngày 13 tháng 12 năm 2024, đối với:
Họ và tên: Trần Văn M. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 20 tháng 4 năm 1975, tại tỉnh Nghệ An.
CCCD số: 040075001629. Ngày cấp: 13/4/2021. Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 12/12.
Nguyên quán: Tỉnh Nghệ An.
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố N, phường Nghĩa T, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố A, phường Nghĩa T, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Nghề nghiệp: Làm nông.
Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 05/12/2023 bị Công an phường Nghĩa Thành, thành phố Gia Nghĩa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01351/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt 1.500.000 đồng; Ngày 21/02/2024 bị Ủy ban nhân dân phường Nghĩa T, thành phố G ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 19/QĐ-UBND, thời gian cai nghiện từ ngày 21/02/2024 đến ngày 21/02/2025.
Con ông: Trần Văn H và bà: Trần T.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lưu Thế L – Phó Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa: Bà Nguyễn Thị Yến Như - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Đối tượng Trần Văn M có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực an ninh trật tự như sau:
Trần Văn M bị Ủy ban nhân dân phường Nghĩa T, thành phố G ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 19/QĐ-UBND ngày 21/02/2024, thời gian cai nghiện từ ngày 21/02/2024 đến ngày 21/02/2025. Ngày 12/11/2024, M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 15/11/2024 bị Ủy ban nhân dân phường Nghĩa T lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngày 15/11/2024 Ủy ban nhân dân phường Nghĩa T, thành phố G có Quyết định dừng quản lý người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình số 670/QĐ-UBND.
Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 17/11/2024 của Trạm y tế phường Nghĩa T xác định Trần Văn M nghiện ma túy (Methamphetamine). Quá trình làm việc tại cơ quan Công an phường Nghĩa Thành, M khai nhận bản thân sử dụng ma túy từ năm 2022.
Tại Văn bản số 333/ĐN-CNBB ngày 03/12/2024, Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố G đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn M.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố G giữ nguyên đề nghị tại Văn bản số 333/ĐN-CNBB ngày 03/12/2024.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
Các hành vi, quyết định của Tòa án, cơ quan, cá nhân trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn M là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBRVQH15 ngày 13/12/2022.
Về nội dung: Căn cứ vào Điều 6, khoản 1 Điều 96; Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 107, Điều 108 và Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Khoản 1 Điều 3, Điều 17, Điều 21 và Điều 23 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố G, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn M, thời hạn chấp hành từ 15 tháng đến 20 tháng.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đề nghị đã được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Cơ quan đề nghị và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, có đủ căn cứ kết luận:
[1] Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố G đối với Trần Văn M bảo đảm đúng quy định tại các điều 6, 96, 103 và 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
[2] Trần Văn M là người nghiện ma túy, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và đang là đối tượng bị Ủy ban nhân dân phường Nghĩa T, thành phố G ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 19/QĐ-UBND ngày 21/02/2024, tuy nhiên M không tự nguyện cai nghiện và quyết tâm từ bỏ ma túy mà tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi vi phạm của Trần Văn M đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bản thân, ảnh hưởng kinh tế của gia đình và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm. Việc đưa Trần Văn M vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết để M từ bỏ đối với chất ma túy, hòa nhập với cộng đồng. Vì vậy, xét thấy đề nghị của Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố G là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) nên cần chấp nhận và cần quyết định thời hạn cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn M với thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, giúp đỡ M cai nghiện, phát triển lành mạnh, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[3] Tình tiết tăng nặng: Trần Văn M vi phạm hành chính nhiều lần, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phát hiện hành vi vi phạm, Trần Văn M tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
[5] Xét ý kiến của của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[6] Căn cứ Điều 6, khoản 1 Điều 96; Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 107, Điều 108 và Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Khoản 1 Điều 3, Điều 17, Điều 21 và Điều 23 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Khoản 4 Điều 1 của Nghị định 116/2021 NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy:
Chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố G, tỉnh Đắk Nông đưa đối tượng Trần Văn M vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm răn đe, giáo dục đối với M, đồng thời giúp M phấn đấu, rèn luyện trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội sau này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Trần Văn M, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1975.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy số 1; địa chỉ: Thôn B, xã Đắk R huyện T, tỉnh Đắk Nông.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố G phối hợp với Công an thành phố Gia Nghĩa; Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tại thôn B, xã Đắk R huyện T, tỉnh Đắk Nông có nhiệm vụ thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Gia Nghĩa; - Công an TP. Gia Nghĩa; - Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố G; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 1; - UBND phường Nghĩa T; - Công an phường Nghĩa Thành; - Đối tượng bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đã ký Mai Đoàn Minh Hương |