- Tranh chấp gì? "Lò Văn Thương"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 23/5/1999; Con ông: Lò Văn L và bà: Lò Thị T1; Nơi cư trú: bản N, xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu.
- Căn cứ chính? Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2024/QĐ - TA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ | Nậm Nhùn, ngày 28 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Ông Đồng Văn D
Thư ký phiên họp: Bà Mào Thị Chiến
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 13/2024/QĐ - TA ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Lò Văn T, sinh ngày 23/5/1999; tên gọi khác: Không; Số Căn cước công dân xxxxxxxxxxxx; Cấp ngày 16/4/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ C; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quê quán: xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản N, xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu. Con ông: Lò Văn L, sinh năm 1977 và con bà: Lò Thị T1, sinh năm 1980.
Tiền án, tiền sự: Không.
Người bị đề nghị: Lò Văn T (có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Lê Thị T2 - Phó phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N, tỉnh Lai Châu.
2. Đại diện Viện kiểm sát: Ông Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
NHẬN THẤY:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T nhận thấy:
Lò Văn T là đối tượng nghiện chất ma túy thường xuyên từ năm 2020, bắt đầu tham gia điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm Y tế huyện N từ 12/2022, đến ngày 07/02/2023, Lò Văn T đã tự ý chấm dứt điều trị trong khi đang điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone trong khi chưa hoàn thành quá trình điều trị bằng thuốc Methadone. Ngày 02/6/2024, Lò Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và được Công an xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu xét nghiệm chất ma túy, kết quả dương tính chất ma túy trong cơ thể. Ngày 12/6/2024, Lò Văn T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép ma túy và được Công an xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu có văn bản đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy tại Trung tâm Y tế huyện N. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy số 11/KQ-TTYT ngày 15/6/2024 của Trung tâm y tế huyện N xác định Lò Văn T nghiện ma túy loại Heroine.
Căn cứ vào các biên bản vi phạm hành chính, cùng bản tường trình và các lời khai của Lò Văn T và các tài liệu có trong hồ sơ, thể hiện Lò Văn T là người nghiện ma túy từ năm 2020, loại ma túy Lò Văn T sử dụng là H và sử dụng bằng hình thức hít.
Căn cứ vào các biên bản vi phạm và các tài liệu có trong hồ sơ xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Lò Văn T là người nghiện ma túy, sau khi xác định tình trạng nghiện ma túy Lò Văn T đã vi phạm và không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Xác định Lò Văn T là người nghiện chất ma túy và đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy. Do vậy, Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu đã có quyết định lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại tỉnh Lai Châu đối với Lò Văn T. Quá trình lập hồ sơ Lò Văn T được thông báo về việc lập hồ sơ và đọc hồ sơ đúng theo quy định.
Ngày 20/6/2024, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N có văn bản số: 206/ĐN-CNBB cùng toàn bộ hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu đối với Lò Văn T.
Tại phiên họp, Đại diện cơ quan đề nghị Phòng L có ý kiến như sau: Lò Văn T là đối tượng nghiện và sử dụng chất ma túy từ năm 2020, đã được Trung tâm Y tế huyện N xác định tình trạng nghiện ma túy, đã vi phạm và không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện, do vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021. Do vậy, Phòng Lao động Thương binh xã hội huyện N đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trung tâm điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu đối với Lò Văn T với thời hạn từ 12 đến 18 tháng.
Tại phiên họp người bị đề nghị Lò Văn T đều thừa nhận là người nghiện ma túy từ năm 2020 đến nay, thường xuyên sử dụng ma túy, đã vi phạm và không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và đã được Trung tâm Y tế huyện N xác định tình trạng nghiện ma túy, quá trình lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Lò Văn T đều được ký nhận và đọc theo đúng quy định pháp luật.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Về tuân thủ theo pháp luật kể từ khi thụ lý hồ sơ cho đến khi tiến hành mở phiên họp đều đảm bảo đúng trình tự, quy định của pháp luật về đề nghị Toà án nhân dân huyện Nậm Nhùn giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N, tỉnh Lai Châu đối với Lò Văn T.
Sau khi xem xét đánh giá khách quan, toàn diện những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp. Ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
XÉT THẤY:
Về thẩm quyền quyết định của Toà án: Việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Nậm Nhùn theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022.
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T đã được lập đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo quy định tại các Điều 103; Điều 104 Luật xử lý hành chính; các Điều 40, 41, 42, 43 và Điều 45 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Tại phiên họp, người bị đề nghị Lò Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ và có mặt tại phiên họp theo quy định tại khoản 1 Điều 20 pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về đối tượng, thời hiệu áp dụng: Lò Văn T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2020 đến nay, trên 18 tuổi, là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định, không có nghề nghiệp ổn định. Lò Văn T là người nghiện ma túy, tham gia điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm y tế huyện N từ tháng 12/2022, đến ngày 07/02/2023, Lò Văn T đã tự ý chấm dứt điều trị trong khi đang điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone trong khi chưa hoàn thành quá trình điều trị và đã được xác định tình trạng nghiên, Lò Văn T đã không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, do đó đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy. Căn cứ vào bản tường trình, lời khai và các kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể và kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Lò Văn T xác định, Lò Văn T là người nghiện ma túy từ năm 2020 đến nay, loại ma túy T sử dụng là H và sử dụng bằng hình thức hít. Vì vậy việc lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T là đúng đối tượng, đảm bảo thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma tuý.
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm của Lò Văn T: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy không những gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe của Lò Văn T mà còn gây mất trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và hành vi vi phạm pháp luật khác. Nếu tiếp tục để Lò Văn T ở ngoài xã hội sẽ càng lấn sâu vào sử dụng ma túy, do đó, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T là cần thiết để giúp Lò Văn T cai nghiện, học tập, lao động, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Lò Văn T là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự.
Trong suốt quá trình lập hồ sơ, Lò Văn T đã tự nguyện khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Lò Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính.
Ý kiến của người tham gia phiên họp:
Tại phiên họp, người đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N giữ nguyên quan điểm đề nghị đưa Lò Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm điều trị, cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu với thời gian từ 18 đến 24 tháng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn nhất trí đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ; xét thấy cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T trong một thời gian nhất định để lao động học tập, sinh hoạt, chữa bệnh dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện để có thể cai nghiện ma tuý. Do vậy đề nghị của cơ quan đề nghị là có căn cứ và phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nên cần được chấp nhận. Nhằm giáo dục, giúp cho Lò Văn T có điều kiện giáo dục, lao động và sớm hòa nhập cộng đồng, sống có ích cho bản thân và xã hội.
Căn cứ áp dụng:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 107; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2020.
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14 ngày 30/3/2021 của Quốc hội;
Căn cứ các Điều 40; Điều 41; Điều 42; Điều 43 và Điều 45 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Căn cứ các Điều 3; Điều 20; Điều 21; Điều 23; Điều 24; Điều 25; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 23/5/1999; Con ông: Lò Văn L và con bà: Lò Thị T1; Nơi cư trú: bản N, xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào Trung tâm điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu.
3. Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Lai Châu. Địa chỉ: Bản L, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu.
3. Về quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện N, tỉnh Lai Châu; Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện N, tỉnh Lai Châu; Trung tâm điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu./. Nơi nhận:
THẨM PHÁN
- Người bị đề nghị;
- Công an thị trấn N;
- Công an huyện N;
- Phòng LĐTBXH huyện Nậm Nhùn;
- VKSND huyện Nậm Nhùn;
- UBND thị trấn N;
- Trung tâm CNBB tỉnh L;
Đồng Văn Dũng
- Tòa án tỉnh Lai Châu;
- Lưu hồ sơ.
QUYẾT ĐỊNH:
4. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 23/5/1999; Con ông: Lò Văn L và bà: Lò Thị T1; Nơi cư trú: bản N, xã N, huyện N, tỉnh Lai Châu.
1. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào Trung tâm điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu. Địa chỉ: Bản L, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu.
Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Lai Châu. Địa chỉ: Bản L, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu.
2. Về quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
4. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện N, tỉnh Lai Châu; Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện N, tỉnh Lai Châu; Trung tâm điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu./.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Công an thị trấn Nậm Nhùn; - Công an huyện Nậm Nhùn; - Phòng LĐTBXH huyện Nậm Nhùn; - VKSND huyện Nậm Nhùn; - UBND thị trấn Nậm Nhùn; - Trung tâm CNBB tỉnh Lai Châu; - Tòa án tỉnh Lai Châu; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đồng Văn Dũng |