- Tranh chấp gì? "Quyết định số 12/2024/QĐ-TA ngày 31/5/2024"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Y N Niê.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2024/QĐ-TA | Krông Búk, ngày 31 tháng 5 năm 2024. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Ông Lê Anh Thái.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Đạt.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Búk tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 11/2024/QĐ-TA ngày 22/5/2024, đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Y N Niê, sinh ngày 10/5/2005; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Đăk Lắk; CCCD số: 066205000364; Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; dân tộc: Ê đê; trình độ học vấn: 6/12; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Y Ng Niê, sinh năm 1968 và bà H Ñ Niê, sinh năm 1972; Hiện cư trú tại: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Người bị đề nghị: Y N Niê – vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Kim Bảng – Chuyên viên Phòng Lao đông – Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk– Đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 06/GUQ-LĐTBXH ngày 14/5/2024 của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk: Ông Đinh Quang Ngọc - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 26/4/2024, Y N Niê có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã C, huyện K lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa đi xét nghiệm chất ma túy. Căn cứ Phiếu kết quả Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 26/4/2024 của Trung tâm y tế huyện K về việc xác định người nghiện ma túy, đã kết luận: Tét nhanh ma túy Morphin trong nước tiểu, có kết quả: Dương tính. Xác định Y N Niê có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Morphin.
Ý kiến của đại diện Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đã bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú theo Quyết định số 86/QĐ-UBND ngày 07/3/2024 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã C, thời hạn quản lý từ ngày 07/3/2024 đến ngày 07/3/2026. Trong thời gian chấp hành quyết định biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú, người bị đề nghị tiếp tục sử dụng chất ma túy vào ngày 26/4/2024 nên thuộc trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, đề nghị Toà án nhân dân huyện Krông Búk áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng đối với người bị đề nghị Y N Niê.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk đề nghị Toà án nhân dân huyện Krông Búk áp dụng biện pháp biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là phù hợp, hồ sơ đầy đủ, đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị. Về thời hạn cai nghiện bắt buộc đề nghị áp dụng thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
Tại bản tường trình, biên bản làm việc ngày 26/4/2024, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, người bị đề nghị Y N Niê trình bày:
Anh Y N Niê là người nghiện ma tuý, loại ma túy sử dụng là Morphin (Heroin), tần suất sử dụng 01 ngày/lần, hình thức sử dụng là tiêm trích trực tiếp vào cơ thể. Anh Y N Niê đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng, đã chấp hành xong quyết định. Hiện đang bị áp dụng biện pháp biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú theo quyết định của Ủy ban nhân dân xã C. Bản thân anh Y N Niê biết hành vi sử dụng chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng anh Y N Niê không tự mình cai nghiện được nên đề nghị được đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định của pháp luật.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, ý kiến đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk.
XÉT THẤY:
1. Về tố tụng: Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y N Niê thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
Về thời hiệu: Căn cứ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống ma túy; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện; khoản 1 điều 9 nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, xác định hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Y N Niê đảm bảo đúng thời hiệu.
Tại phiên họp vắng mặt người bị đề nghị Y N Niê mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Tòa án nhân dân huyện Krông Búk tiến hành mở phiên họp vắng mặt người bị đề nghị Y N Niê.
Về hồ sơ đề nghị: Đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020; khoản 2 Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
2. Về nội dung: Người bị đề nghị anh Y N Niê thừa nhận mình là người nghiện ma tuý, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng, đã chấp hành quyết định. Hiện đang bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú kể từ ngày 07/3/2024 đến ngày 07/3/2026, trong thời gian chấp hành biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú, vào ngày 26/4/2024, anh Y N Niê có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã C, huyện K lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa đi xét nghiệm, xác định anh Y N Niê có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Morphin (Heroin). Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị Y N Niê có nguyện vọng được đi cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh Y N Niê đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Xét hồ sơ đề nghị Toà án áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk đã đầy đủ, đúng quy định tại Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính; người bị đề nghị Y N Niê có nguyện vọng được đi cai nghiện tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk nên cần chấp nhận và áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y N Niê với thời hạn 02 năm để đảm bảo việc chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của Cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;
Căn cứ khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 105; Điều 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40; 41; 54 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
Căn cứ Điều 3; Điều 23; 30; 31; 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Căn cứ Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Y N Niê.
Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk tại xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 02 (hai) năm, kể từ ngày ngày người bị đề nghị Y N Niê được giao cho Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị:
Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết; Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan Thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk có trách phiệm phối hợp với Công an huyện Krông Búk đưa người phải chấp hành Quyết định vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Phòng LĐTB & XH huyện Krông Búk; - VKSND huyện Krông Búk; - CA huyện Krông Búk; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; - UBND; Công an xã C; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN ĐÃ KÝ Lê Anh Thái |