vanban.org

Quyết định 12/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về con chung: Con chung Trần Thị Thanh Mai, sinh năm 1995; Trần Thị Thanh Thương, sinh năm 2004 đã trưởng thành. Giao con chung Trần Thị Thanh Thảo, sinh ngày 23/10/2007 cho bà Bì Thị Hải Triều trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIÊN KHÁNH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 4 - 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Sương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Thiện Duyên

Ông Nguyễn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Nguyên Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 384/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bì Thị Hải Triều - sinh năm 1975

Địa chỉ thường trú: 75/1 Nguyễn Khuyến, phường Vĩnh Hải, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa.

Chỗ ở hiện nay: 14 Lạc Long Quân, thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa.

Bà Triều vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Vĩnh, sinh năm 1970

Địa chỉ thường trú: 75/1 Nguyễn Khuyến, phường Vĩnh Hải, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa.

Chỗ ở hiện nay: 14 Lạc Long Quân, thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa.

Ông Vĩnh vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Bì Thị Hải Triều trình bày:

Bà và ông Trần Vĩnh tự nguyện yêu thương và chung sống với nhau từ năm 1994, đến năm 1999 kết hôn tại phường Vĩnh Hải, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa. Đến năm 2010 thì vợ chồng ly hôn để làm thủ tục xuất cảnh sang nước ngoài nhưng không được nên vợ chồng bà quay lại chung sống với nhau. Năm 2013, vợ chồng và con cái bà chuyển lên Diên Khánh làm ăn, sinh sống cho đến nay. Năm 2016, bà và ông Vĩnh đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Hải, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, cuộc sống chung vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, hay cãi nhau. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không tin tưởng, không còn quan tâm đến nhau. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông Vĩnh, yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Vĩnh.

Về con chung: Bà và ông Vĩnh có 03 con chung: Trần Thị Thanh Mai, sinh năm 1995; Trần Thị Thanh Thương, sinh năm 2004 và Trần Thị Thanh Thảo, sinh năm 2007. Cháu Thương và Mai đã trưởng thành khỏe mạnh, cháu Thảo đang sinh sống cùng với bà, bà có nguyện vọng nuôi cháu Thảo, không yêu cầu ông Vĩnh cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà tự thỏa thuận với ông Vĩnh, bà không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định bà và ông Vĩnh không có nợ chung.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Vĩnh không đến Tòa án làm việc, không có lời khai.

- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn không có lời khai, không đến Tòa làm việc.

Về nội dung: Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của đương sự tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Bì Thị Hải Triều đối với bị đơn ông Trần Vĩnh. Về con chung: Trần Thị Thanh Mai, sinh năm 1995; Trần Thị Thanh Thương, sinh năm 2004 trưởng thành, khỏe mạnh nên đề nghị không xét; giao con chung Trần Thị Thanh Thảo, sinh năm 2007 cho bà Triều nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Vĩnh; tài sản chung bà Triều tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Bà Triều phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bì Thị Hải Triều và ông Trần Vĩnh tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Hải, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 160/2016 ngày 21/10/2016; đây là hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét: Nguyên đơn bà Bì Thị Hải Triều khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bị đơn ông Trần Vĩnh vì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Bà Triều xác định không còn tình cảm với ông Vĩnh, không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân, không thể hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng mặc dù còn chung sống với nhau nhưng mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng của mình, không còn quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Vĩnh đến Tòa để làm việc liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như các phiên hòa giải để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng nhưng ông Vĩnh không đến Tòa làm việc, không có lời khai và tại phiên tòa ông Vĩnh cũng vắng mặt không có lý do. Điều này cho thấy ông Vĩnh có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của vợ chồng, không muốn hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét tình cảm vợ chồng giữa bà Triều và ông Vĩnh không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Triều có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung: Bà Triều và ông Vĩnh có 03 con chung Trần Thị Thanh Mai, sinh năm 1995; Trần Thị Thanh Thương, sinh năm 2004 và Trần Thị Thanh Thảo, sinh ngày 23/10/2007. Bà Triều xác định cháu Mai và cháu Thương đã trưởng thành, khỏe mạnh bà không có yêu cầu gì nên không xét. Cháu Thảo đang ở với bà, có nguyện vọng ở cùng bà và bà cũng có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Thảo, ông Vĩnh vắng mặt không có ý kiến nên để ổn định cho việc ăn học, đảm bảo cho sự phát triển mọi mặt của con chung cần tiếp tục giao cho bà Triều nuôi dưỡng là phù hợp. Bà Triều không yêu cầu ông Vĩnh cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Vĩnh.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Triều tự thỏa thuận về tài sản chung, không có nợ chung với ông Vĩnh, không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét. Do bị đơn ông Vĩnh chưa có lời khai về vấn đề này nếu sau này đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

Về án phí: Bà Triều phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Bì Thị Hải Triều được ly hôn với ông Trần Vĩnh.

2. Về con chung: Con chung Trần Thị Thanh Mai, sinh năm 1995; Trần Thị Thanh Thương, sinh năm 2004 đã trưởng thành.

Giao con chung Trần Thị Thanh Thảo, sinh ngày 23/10/2007 cho bà Bì Thị Hải Triều trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Trần Vĩnh. Ông Vĩnh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, bà Triều và ông Vĩnh đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí: Bà Bì Thị Hải Triều phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà bà Triều đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001048 ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh. Như vậy, bà Bì Thị Hải Triều đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bán án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ