vanban.org

Quyết định 12/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã Đ, huyện T, tỉnh H về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật đối với anh Đỗ Văn G và chị Phạm Thị Tố N.

Chấp nhận yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh Đỗ Văn G và chị Phạm Thị Tố N. Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Đỗ Văn G, sinh ngày 07/7/1976 và chị Phạm Thị Tố N, sinh ngày 17/02/1984; ĐKHKTT và nơi cư trú đều ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh H kể từ thời điểm hai bên đủ điều kiện kết hôn (Kể… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Đỗ Văn G và chị Phạm Thị Tố N"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã Đ, huyện T, tỉnh H về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật đối với anh Đỗ Văn G và chị Phạm Thị Tố N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2022/QĐST-HNGĐThanh Miện, ngày 06 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Lại Anh Vân.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tiến hành mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 12/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022 về việc “Yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 12/2022/QĐST-VDS ngày 28 tháng 11 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu:UBND xã Đ, huyện T, tỉnh H.

Đại diện theo pháp luật của người yêu cầu: Ông Nguyễn Anh T – Chức vụ: Chủ tịch UBND xã Đ, huyện T, tỉnh H.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Văn G, sinh ngày 07/7/1976 và chị Phạm Thị Tố N, sinh ngày 17/02/1984. ĐKHKTT đều ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh H.

Các đương sự đều vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Qua quá trình kiểm tra các tài liệu lưu trữ tại UBND xã Đ và đề nghị của công dân, UBND xã Đ phát hiện trường hợp anh Đỗ Văn G, sinh ngày 07/7/1976 và chị Phạm Thị Tố N, sinh ngày 17/02/1984, có hộ khẩu thường trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh H kết hôn ngày 29 tháng 3 năm 2000 là trái pháp luật. Căn cứ theo các tài liệu chính gồm: Căn cước công dân, sổ hộ khẩu gia đình, trích lục khai sinh, Bằng Trung học cơ sở thì chị Phạm Thị Tố N, sinh ngày 17/02/1984 nhưng ngày 29/3/2000 đã tiến hành đăng ký kết hôn với anh Đỗ Văn G, khi đó chị N chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật HNGĐ năm 2000. Khi đến làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, anh G và chị N đã tự khai họ tên chị N là Phạm Thị N và tăng tuổi chị N thành sinh năm 1980, đồng thời việc kiểm tra lý lịch của cán bộ tư pháp thời điểm đó còn nể nang và chưa chính xác nên đã tiến hành đăng ký kết hôn cho anh G, chị N và ghi trong Giấy chứng nhận kết hôn thể hiện anh Đỗ Văn G, sinh năm 1976 và chị Phạm Thị N, sinh năm 1980. Vì vậy, việc kết hôn và ban hành giấy chứng nhận kết hôn là trái pháp luật nên UBND xã Đ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật đối với vợ chồng chị N, anh G.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị N, anh G trình bày: Anh chị được tự do, tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ ngày 29/3/2000. Tuy nhiên, tại thời điểm đi đăng ký kết hôn, chị N chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn (chị N sinh ngày 17/02/1984 nên còn thiếu 10 tháng 19 ngày mới đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật HNGĐ năm 2000). Do vậy, khi đến UBND xã Đ làm thủ tục đăng ký kết hôn, vợ chồng anh chị thống nhất tự khai họ tên chị N là Phạm Thị N và tăng tuổi chị N từ sinh năm 1984 thành sinh năm 1980 để có thể đủ tuổi đăng ký kết hôn và cũng vì nguyện vọng và mong muốn của gia đình để có thể đăng ký kết hôn được hợp pháp. Sau đó, UBND xã Đ đã đăng ký kết hôn cho anh chị thể hiện tại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 16, quyển số 02, ngày 29/3/2000, ghi họ tên vợ Phạm Thị N, sinh năm 1980 và Đỗ Văn G, sinh ngày 07/7/1976. Kể từ thời điểm đăng ký kết hôn cho đến nay, vợ chồng anh chị về tổ chức cuộc sống chung hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì và đã sinh được 02 con chung. Vì vậy, vợ chồng anh chị cùng thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương công nhận quan hệ hôn nhân của vợ chồng anh chị kể từ thời điểm vợ chồng anh chị đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật.

Ông Trương Thanh H – Nguyên Phó Chủ tịch UBND xã Đ và ông Nguyễn Bá R – Cán bộ hộ tịch xã thời điểm năm 2000 là người trực tiếp đăng ký kết hôn cho chị N, anh G thừa nhận do việc kiểm tra giấy tờ tùy thân không kỹ và tin tưởng theo lời khai của chị N, anh G nên đã tiến hành đăng ký kết hôn cho anh chị vào ngày 29/3/2000.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp và thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý vụ việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện áp dụng: Khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối Cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối Cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

+ Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã Đ, huyện T, tỉnh H.

+ Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Đỗ Văn G, sinh ngày 07/7/1976 và chị Phạm Thị Tố N, sinh ngày 17/02/1984 tại thời điểm anh chị đủ điều kiện kết hôn là ngày 17/02/2002.

+ Về lệ phí: UBND xã Đ không phải chịu lệ phí theo quy định. Anh Đỗ Văn G và chị Phạm Thị Tố N phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Đỗ Văn G và chị Phạm Thị Tố N đều cư trú và sinh sống tại thôn Đ, xã Đ và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ năm 2000. Qua kiểm tra và đề nghị của công dân, UBND xã Đ phát hiện trường hợp anh G và chị N kết hôn trái pháp luật nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật đối với anh chị, đồng thời anh G và chị N cùng có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn. Căn cứ Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện thụ lý vụ việc là đúng thẩm quyền.

[2] Về tố tụng: Người yêu cầu là UBND xã Đ; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh G và chị N vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp là phù hợp với quy định tại khoản 2, 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

- Xét yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của UBND xã Đ, huyện T, tỉnh H thì thấy:

Căn cứ theo các giấy tờ, tài liệu chính gồm: Căn cước công dân, sổ hộ khẩu gia đình, trích lục khai sinh, Bằng Trung học cơ sở thì chị N họ tên là Phạm Thị Tố N, sinh ngày 17/02/1984, nhưng đến ngày 29/3/2000 đã tiến hành đăng ký kết hôn với anh Đỗ Văn G, khi đó chị N vẫn còn thiếu 10 tháng 19 ngày mới đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật HNGĐ năm 2000: “Nam từ 20 tuổi trở lên, Nữ từ 18 tuổi trở lên”. Vì chị N chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nên anh G và chị N đã thống nhất tự khai họ tên từ Phạm Thị Tố N thành Phạm Thị N và tăng tuổi của chị N từ sinh năm 1984 thành sinh năm 1980 để có thể đủ tuổi đăng ký kết hôn. Bên cạnh đó, do sơ suất trong việc kiểm tra lý lịch công dân nên cán bộ đăng ký kết hôn thời điểm đó đã tiến hành đăng ký kết hôn cho anh G và chị N, thể hiện tại Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 02 ngày 29/3/2000 ghi họ tên vợ Phạm Thị N, sinh năm 1980 và Đỗ Văn G, sinh ngày 07/7/1976. Việc kết hôn đó đã vi phạm vào Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 và là kết hôn trái pháp luật. Do vậy UBND xã Đ có đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật là có đúng theo Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh G và chị N đã chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì và sinh được 02 con chung là Đỗ Thanh H1, sinh ngày 05/3/2001 và Đỗ Hải N, sinh ngày 22/01/2006. Quá trình giải quyết vụ việc, vợ chồng anh chị đều thống nhất yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị kể từ thời điểm đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Yêu cầu công nhận hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối Cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối Cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;

Do đó, không cần hủy việc kết hôn trái pháp luật mà công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Đỗ Văn G và chị Phạm Thị Tố N kể từ thời điểm anh chị đủ điều kiện kết hôn là ngày 17/02/2002 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự:

- UBND xã Đ, huyện T, tỉnh H không phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự;

- Anh G và chị N có đơn yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn và được chấp nhận nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 9, Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 149, 367, 370, 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã Đ, huyện T, tỉnh H về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật đối với anh Đỗ Văn G và chị Phạm Thị Tố N.

Chấp nhận yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh Đỗ Văn G và chị Phạm Thị Tố N.

2. Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Đỗ Văn G, sinh ngày 07/7/1976 và chị Phạm Thị Tố N, sinh ngày 17/02/1984; ĐKHKTT và nơi cư trú đều ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh H kể từ thời điểm hai bên đủ điều kiện kết hôn (Kể từ ngày 17 tháng 02 năm 2002).

3. Về lệ phí:

- UBND xã Đ, huyện T, tỉnh H không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

- Anh Đỗ Văn G và chị Phạm Thị Tố N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, được đối trừ vào tiền tạm ứng lệ phí chị N, anh G đã nộp theo biên lai số: AA/2021/0000877 ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

4. Quyền kháng cáo: UBND xã Đ; Anh G và chị N có quyền kháng cáo Quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra Quyết định; Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày ra Quyết định.

Cỡ chữ