- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "QĐ CNTTLH Vũ Thị B - Nguyễn Hồng Q"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Vũ Thị B và ông Nguyễn Hồng Q. 2.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2022/QĐST-HNGĐ | Thủ Dầu Một, ngày 17 tháng 01 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 02/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2022, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị B, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ 22, Khu phố 2, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ 22, Khu phố 2, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các điều 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 07 tháng 01 năm 2022.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 07 tháng 01 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Vũ Thị B và ông Nguyễn Hồng Q. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị B và ông Nguyễn Hồng Q thuận tình ly hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 144, quyển số 01/2002, ngày 31/10/2002 do Uỷ ban nhân dân phường P, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Vũ Thị B và ông Nguyễn Hồng Q không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Bà Vũ Thị B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày 23/7/2006 và cháu Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 22/02/2012. Đối với cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 22/9/2002 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Vũ Thị B không yêu cầu ông Nguyễn Hồng Q phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Q được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở ông Q thực hiện quyền này. Sau này, vì lợi ích hợp pháp của cháu Nguyễn Thị Thanh T và Nguyễn Hoàng L Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng khi có yêu cầu. Trường hợp ông Q lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà B thì bà B có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Q.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các bên không có tranh chấp nên Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Bà Vũ Thị B tự nguyện nộp 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0000742 ngày 17/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một trả lại cho bà Vũ Thị B số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) còn thừa. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Nơi nhận:
THẨM PHÁN
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND TP. Thủ Dầu Một;
- CCTHADS TP. Thủ Dầu Một;
- UBND phường P, thành T, tỉnh Bình Dương;
- Đương sự;
- Lưu: HSVA, VT.
Nguyễn Văn Trường