vanban.org

Quyết định 12/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Kiến An, TP. Hải Phòng Tuyên án 06/12/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T:

Tuyên bố bà Vũ Thị T (tức C), sinh năm 1955; ĐKHKTT: Tổ Đ 1, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chỉ định anh Lê Văn T là người giám hộ cho Vũ Thị T (tức C). Anh Trình có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các Điều 57, Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tr - Tr"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T:
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự yêu cầu
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2022/QĐST-DSK, ngày 06 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Văn Khoát.

Thư ký phiên họp: Ông Phùng Thế Thành - Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Đình Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận K, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 20/2022/TLST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 586/2022/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lê Văn T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ Đ 1, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp anh Lê Văn T trình bày: Bố tôi là ông Lê Văn C, sinh năm 1947 (đã chết tháng 3/2022); Mẹ tôi là Vũ Thị T (tức C), sinh năm 1955; địa chỉ: Tổ Đ 1, phường V, K, Hải Phòng, trước đây là người bình thường. Từ khoảng năm 1990 khi đó mẹ tôi đi làm bị tai nạn lao động do gạch rơi vào đầu, kể từ đó trở lại đây mẹ tôi không còn đủ tỉnh táo, minh mẫn như người bình thường, nói năng không rõ nghĩa, không điều chỉnh được hành vi của mình. Gia đình chúng tôi cũng đã cho mẹ tôi đi khám và điều trị bệnh tâm thần tại Bệnh Viện tâm thần Hải Phòng và được cấp phát thuốc điều trị ngoại trú tâm thần, hiện nay hàng tháng mẹ tôi vẫn đang phải dùng thuốc dành cho người tâm thần tại Trạm Y tế phường Văn Đẩu, K, Hải Phòng.

Do mẹ tôi có bệnh lý tâm thần nên mẹ tôi không thể thực hiện được các giao dịch dân sự liên quan đến các công việc cá nhân của bà. Nay để đảm bảo quyền và lợi ích cho mẹ tôi, tôi làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân quận K tuyên bố mẹ tôi là Vũ Thị T (tức C) bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi và xác định người đại diện theo pháp luật cho bà Vũ Thị T (tức C) và phạm vi đại diện để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho mẹ tôi.

Tại đơn yêu cầu ngày 07/4/2022 tôi đề nghị Toà án tuyên bố mẹ tôi là Vũ Thị T (tức C) bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi, tuy nhiên sau khi nhận được Kết luận giám định số 243/KLGĐ của Viện pháp y tâm thần Trung ương, đến nay tôi chỉ yêu cầu Toà án tuyên bố mẹ tôi là Vũ Thị T (tức C) là người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi đồng thời xác định người giám hộ hợp pháp cho mẹ tôi.

Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Về việc việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án đã thụ lý việc dân sự theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, các Điều 365, 366 367 và 377 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 23, Điều 46, điểm d, khoản 1 Điều 47, Điều 48, Điều 49, Điều 53, khoản 4, Điều 54 Bộ luật Dân sự đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T tuyên bố bà Vũ Thị T (tức C) là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định anh Lê Văn T là người giám hộ cho bà Trịnh. Căn cứ Điều 149 Bộ luật Tố Tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, anh Lê Văn T phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy đinh của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng nhận định:

Về thẩm quyền: Người bị yêu cầu tuyên bố có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là bà Vũ Thị T (tức C) có ĐKHKTT: Tổ Đ 1, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc tuyên bố Vũ Thị T (tức C) có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K.

Về nội dung yêu cầu: Căn cứ Kết luận giám định sức khoẻ tâm thần số 243/2022/KLGĐ ngày 16/9/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung ương, kết luận: Tại thời điểm giám định đối tượng Vũ Thị T (tức C) bị bệnh tâm thần phân liệt thể paranoid. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.0. Bệnh ở giai đoạn thuyên giảm. Đối tượng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó căn cứ vào Điều 23 Bộ luật Dân sự yêu cầu của anh T là có căn cứ chấp nhận.

Về việc chỉ định người giám hộ: Tại phiên họp anh Trình, trình bày bố đẻ của anh là ông Lê Văn Chính, sinh năm 1947 (đã chết tháng 3/2022); anh là con trai cả của bà Vũ Thị T (tức C) hiện nay bà Trịnh vẫn đang sinh sống cùng gia đình anh tại Tổ Đ 1, Văn Đẩu, K, Hải Phòng, sau anh chỉ còn 02 cô em gái là Lê Thị C, sinh năm 1979 và Lê Thị C, sinh năm 1984. Do đó căn cứ Điều 46, Điều 48, Điều 53 và khoản 4 Điều 54 Bộ luật Dân sự năm 2015, Toà án chỉ định anh Lê Văn T là người giám hộ cho Vũ Thị T (tức C).

Về lệ phí: Anh Lê Văn T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 23, Điều 46, Điều 48, Điều 49, Điều 53 và khoản 4 Điều 54 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149; các điều 361, 370, 376, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35; Điều 36; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T:

- Tuyên bố bà Vũ Thị T (tức C), sinh năm 1955; ĐKHKTT: Tổ Đ 1, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

- Chỉ định anh Lê Văn T là người giám hộ cho Vũ Thị T (tức C). Anh Trình có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các Điều 57, Điều 58 và Điều 59 Bộ luật Dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 3643 ngày 20/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng; Anh Lê Văn T đã nộp đủ tiền lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Lê Văn T có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ