vanban.org

Quyết định 12/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị D. Tuyên bố ông Trần Văn M, sinh năm 1975; có hộ khẩu thường trú tại khu phố GH1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định bà Nguyễn Thị D là người giám hộ của ông Trần Văn M. Quyền và …

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đ sung vào ngân sách nhà nước. Bà D đã nộp tạm ứng lệ phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng lệ phí số: 0001960 ngày 04/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã HN, được tính trừ. Về kháng cáo, kháng n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Thị D yêu cầu Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị D. Tuyên bố ông Trần Văn M, sinh năm 1975; có hộ khẩu thường trú tại khu phố GH1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định bà Nguyễn Thị D là người giám hộ của ông Trần Văn M. Quyền và …
  • Căn cứ chính? Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HN
TỈNH BĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2022/QĐST-DSHN, ngày 27 tháng 4 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN, TỈNH BĐ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Vinh

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Tư - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Khánh Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã HN mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 15/2022/TLST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2022 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 535/2022/QĐST-DS ngày 11tháng 4 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng dưới đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu phố TĐĐ, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trần C, sinh năm 1946

+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1948

+ Chị Trần Thị Ái V, sinh năm 1998

+ Cháu Trần Nguyễn Phong T, sinh ngày 22/10/2005

Cùng địa chỉ: Khu phố GH1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Trần Nguyễn Phong T, bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu phố TĐĐ, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ.

(Bà D có mặt; ông C, bà H, chị V vắng mặt tại phiên họp).

NỘI D VIỆC DÂN SỰ:

- Theo đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự cũng như tại phiên họp hôm nay người yêu cầu bà Nguyễn Thị D trình bày:

Ông Trần Văn M- sinh năm 1975, có hộ khẩu thường trú tại khu phố GH1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ là chồng của bà. Ông M và bà có 02 người con chung là chị Trần Thị Ái V, sinh năm 1998 và cháu Trần Nguyễn Phong T, sinh ngày 22/10/2005. Khoảng năm 2000, ông M bắt đầu xuất hiện co giật tay chân, trợn mặt, sùi bọt mép, mất ý thức, không do sốt, kéo dài 1-2 phút, sau cơn khoảng 20 phút mới tỉnh, trung bình 5-6 cơn/tháng, cơn chủ yếu xuất hiện vào ban đêm. Từ sau khi co giật, tính tình ngày càng trở nên nóng nảy, dễ bị kích động, bùng nổ, hay gây gỗ với mọi người xung quanh, đập phá đồ đạc trong nhà, đánh người thân trong gia đình, thỉnh thoảng bỏ nhà đi lang thang. Từ năm 2014 cho đến nay ông M được đưa vào quản lý và chăm sóc tại Trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần HN. Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông M là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và đề nghị Tòa án chỉ định bà là người giám hộ của ông M.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Vợ chồng ông Trần C bà Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên họp nhưng trong quá trình giải quyết việc dân sự đều khai: Con trai của ông bà là ông Trần Văn M, sinh năm 1975; có hộ khẩu thường trú tại khu phố GH1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ. Ông bà đều đồng ý với trình bày và yêu cầu của bà D vợ của ông M, yêu cầu Tòa án tuyên bố ông M là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và yêu cầu Tòa án chỉ định bà D là người giám hộ của ông M. Vì tuổi già, sức khỏe yếu ông bà đều xin đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

+ Chị Trần Thị Ái V vắng mặt tại phiên họp nhưng trong quá trình giải quyết việc dân sự khai: Cha của chị là ông Trần Văn M, sinh năm 1975; có hộ khẩu thường trú tại khu phố GH1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ. Chị đồng ý với yêu cầu của mẹ là bà D, yêu cầu Tòa án tuyên bố ông M là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và yêu cầu Tòa án chỉ định bà D là người giám hộ của ông M. Vì bận công việc làm ăm ở xa, chị xin đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

+ Người đại diện theo pháp luật của cháu Trần Nguyễn Phong T, bà Nguyễn Thị D trình bày: Cha của cháu Trần Nguyễn Phong T là ông Trần Văn M, sinh năm 1975; có hộ khẩu thường trú tại khu phố GH1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ. Bà đồng ý yêu cầu Tòa án tuyên bố ông M là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và yêu cầu Tòa án chỉ định bà D là người giám hộ của ông M.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã HN tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Về tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, của đương sự trong quá trình giải quyết việc dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến phiên họp là thực hiện đúng qui định của pháp luật và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà D, tuyên bố ông M là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ

2

định bà D là người giám hộ của ông Minh. Về lệ phí việc dân sự bà D phải chịu theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã HN nhận định:

Đây là việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo qui định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự. Người bị yêu cầu là ông Trần Văn M- sinh năm 1975, có hộ khẩu thường trú tại khu phố GH1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ. Do đó Tòa án nhân dân thị xã HN thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo qui định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo đơn yêu cầu của bà D và các lời khai của bà D, ông C, bà H, chị V và của người đại diện theo pháp luật của cháu T trong quá trình giải quyết việc dân sự thì ông M có cha, mẹ, vợ và 02 con là ông C, bà H, bà D và chị V, cháu T. Khoảng năm 2000, ông M bắt đầu xuất hiện co giật tay chân, trợn mặt, sùi bọt mép, mất ý thức, không do sốt, kéo dài 1-2 phút, sau cơn khoảng 20 phút mới tỉnh, trung bình 5-6 cơn/tháng, cơn chủ yếu xuất hiện vào ban đêm. Tính tình ngày càng trở nên nóng nảy, dễ kích động, bùng nổ, hay gây gỗ với mọi người xung quanh, đập phá đồ đạc trong nhà, đánh người thân trong gia đình, thỉnh thoảng bỏ nhà đi lang thang. Từ năm 2014 cho đến nay, ông M được đưa vào quản lý và chăm sóc tại Trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần HN. Tất cả đều đồng ý với yêu cầu của bà D, yêu cầu Tòa án tuyên bố ông M là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và yêu cầu Tòa án chỉ định bà D là người giám hộ của ông Minh.

Theo xác nhận ngày 21/3/2022 của Trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần HN, ông M là đối tượng tâm thần đang nuôi dưỡng tại trung tâm từ ngày 10/6/2014 cho đến nay và theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số: 272/KLGĐYC ngày 14/3/2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung, ông M hiện tại bị động kinh cơn lớn có biến đổi trí năng nhân cách (G40) và khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà D, tuyên bố ông M là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chấp nhận chỉ định bà D là người giám hộ của ông M là có căn cứ và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 23, khoản 4 Điều 54 Bộ luật dân sự. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về lệ phí dân sự sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà D phải chịu 300.000đ sung vào ngân sách nhà nước là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều

3

37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 23, khoản 4 Điều 54, Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị D. Tuyên bố ông Trần Văn M, sinh năm 1975; có hộ khẩu thường trú tại khu phố GH1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định bà Nguyễn Thị D là người giám hộ của ông Trần Văn M. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo qui định của pháp luật.

- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đ sung vào ngân sách nhà nước. Bà D đã nộp tạm ứng lệ phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng lệ phí số: 0001960 ngày 04/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã HN, được tính trừ.

- Về kháng cáo, kháng nghị: Bà D có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BĐ có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định này, vợ chồng ông Cảnh bà Hoa và chị Vi vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này hoặc được niêm yết tại ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, để Toà án nhân dân tỉnh BĐ giải quyết lại theo trình tự phúc thẩm.

Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự đối với những quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ