vanban.org

Quyết định 12/2022/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 30/12/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Hồng T.

Tuyên bố: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1950; nơi cư trú cuối cùng: Ấp D1, xã B, huyện T1, tỉnh Đồng Nai đã chết. Thời điểm chết của ông Nguyễn Văn H được xác định là ngày 01/01/1996. Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người đã chết đối với ông Nguyễn Văn Hà"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Hồng T.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2022/QĐDS-STTân Phú, ngày 30 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết”.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Bá Đại

Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Luật - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 99/2022/TLST-VDS ngày 12 tháng 7 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 13/2022/QĐST-VDS ngày 16 tháng 12 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Lê Thị Hồng T – sinh năm 1949

Địa chỉ: Ấp D1, xã B, huyện T1, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn D – sinh năm 1986

Địa chỉ: Ấp D1, xã B, huyện T1, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu ngày 23/6/2022, bản tự khai ngày 12/7/2022 của người yêu cầu bà Lê Thị Hồng T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn H – sinh năm 1950; địa chỉ: Ấp D1, xã B, huyện T1, tỉnh Đồng Nai tự nguyện sống chung như vợ chồng với nhau vào năm 1984 tại Ấp D1, xã B, huyện T1, tỉnh Đồng Nai. Bà và ông H có 01 con chung là Nguyễn Văn D – sinh năm 1986. Ông bà có tài sản chung là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 13 tại xã Phú Bình, được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 138539 ngày 29/12/2003 đứng tên bà Lê Thị Hồng T và ông Nguyễn Văn H.

Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận không có xảy ra mâu thuẫn gì. Đến năm 1990, ông H đã bỏ nhà đi khỏi địa phương mà không nói lý do cho gia đình biết. Bà đã đi tìm nhiều lần, nhiều nơi nhưng cũng không có tin tức ông H đang ở đâu, làm gì và ông H cũng không liên lạc gì với gia đình từ đó cho đến nay. Bố mẹ của ông H đã chết từ lâu. Đồng thời, ngày 07, 08 và 09/7/2022 bà đã thông báo trên Đài tiếng nói Việt Nam để tìm kiếm thông tin của ông H nhưng đến nay cũng không có tin tức.

Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn Văn H – sinh năm 1950; theo địa chỉ cư trú cuối cùng tại: Ấp D1, xã B, huyện T1, tỉnh Đồng Nai để làm cơ sở giải quyết thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho con trai là Nguyễn Văn D.

Tại bản tự khai ngày 23/6/2022, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D trình bày:

Anh là con trai của bà Lê Thị Hồng T và ông Nguyễn Văn D. Anh thừa nhận lời khai của bà T là đúng. Anh đồng ý với yêu cầu của bà T và không có ý kiến nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T đã cung cấp những tài liệu, chứng cứ sau: Sổ hộ khẩu gia đình do bà T làm chủ hộ (bản sao); Căn cước công dân của bà T, anh D (bản sao); Giấy khai sinh của anh D (bản sao); Hợp đồng thông tin ngày 20/6/2022 giữa bà và Đài tiếng nói Việt Nam; Phiếu thu ngày 20/6/2022.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Tân Phú phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã đảm bảo việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết viêc dân sự và người yêu cầu chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Hồng T, tuyên bố ông Nguyễn Văn H – sinh năm 1950; theo địa chỉ cư trú cuối cùng tại: Ấp D1, xã B, huyện T1, tỉnh Đồng Nai là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:

Về thẩm quyền giải quyết:

Ông Nguyễn Văn H – sinh năm 1950, có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại địa chỉ: Ấp D1, xã B, huyện T1, tỉnh Đồng Nai nên Tòa án nhân dân huyện Tân Phú có thẩm quyền giải quyết việc dân sự theo quy định khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xác định quan hệ pháp luật: Bà Lê Thị Hồng T yêu cầu tuyên bố tuyên bố ông Nguyễn Văn H là đã chết, nên quan hệ pháp luật việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” quy định tại khoản 1, Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về tư cách tham gia tố tụng:

Bà T là người có đơn yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn H là đã chết nên bà T được xác định là người yêu cầu.

Anh Nguyễn Văn D có quan hệ là con ruột của bà T và ông H nên xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[1.4] Tại phiên họp, bà T, anh D có đơn yêu cầu vắng mặt. Xét thấy việc các đương sự đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận, quy định tại khoản 2, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét đơn yêu cầu của bà T:

Ông H là chồng của bà T bỏ đi biệt tích từ năm 1990, bà T và gia đình đã tìm kiếm nhưng không ai biết tin tức gì về ông H. Ngày 07, 08 và 09/7/2022, bà T đã thông báo trên Đài tiếng nói Việt Nam để tìm kiếm thông tin của ông H nhưng đến nay cũng không có tin tức. Sau khi thụ lý yêu cầu của bà T Tòa án nhân dân huyện Tân Phú đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 09/TB-TA ngày 29/7/2022 đối với ông Nguyễn Văn H và đăng thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng cụ thể: Báo công lý - Cơ quan của Tòa án nhân dân tối cao các số 64, 65, 66 vào các ngày 12, 16, 19 tháng 8 năm 2022; Đài tiếng nói Việt Nam cơ quan thương trực tại Thành phố Hồ Chí Minh phát sóng vào các ngày 15, 16, 17 tháng 8 năm 2022. Nay đã hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên ngày 15/8/2022 và tính từ thời điểm ông H bỏ đi biệt tích năm 1990 đến nay đã trên 05 năm mà ông H không có mặt tại gia đình và địa phương, không có tin tức xác thực về việc là ông H còn sống hay đã chết. Từ những căn cứ trên, xét thấy yêu cầu của bà T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông H là đã chết là có cơ sở, nên chấp nhận.

Về việc xác định thời điểm chết của ông H:

Theo sự khai trình của bà T, anh D; nội dung kết quả xác minh của Công an xã Phú Bình thì thời gian sau cùng xác định ông H biệt tích là năm 1990 mà không xác định được ngày, tháng cụ thể. Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”

Do đó, thời hạn 05 năm liền biệt tích của ông H được xác định từ ngày 01/01/1991 và ngày chết của ông H được xác định vào ngày 01/01/1996 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Căn cứ Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:

- Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết.

- Quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị Hồng T thuộc trường hợp “Người cao tuổi” nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí Tòa án theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 27; điểm a, khoản 2 Điều 35; điểm b, khoản 2 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 367; các Điều 369,370,371, 372, 391, 392, 393 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 68, các Điều 71, 72 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Hồng T.

Tuyên bố: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1950; nơi cư trú cuối cùng: Ấp D1, xã B, huyện T1, tỉnh Đồng Nai đã chết. Thời điểm chết của ông Nguyễn Văn H được xác định là ngày 01/01/1996.

2. Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết:

- Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết.

- Quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị Hồng T thuộc trường hợp “Người cao tuổi” nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí Tòa án theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ