- Tranh chấp gì? "Hà Đức T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, 96, 103, 104 và Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2022/QĐ-TA | TP. Thái Nguyên, ngày 06 tháng 05 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần T hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Duyên
- Thư ký phiên họp: Ông Lê Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 04 tháng 05 năm 2022, tại cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên T hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 13/2022/QĐ-TA ngày 24 tháng 04 năm 2022, đối với:
Họ và tên: Hà Đức T, sinh năm 1987.
Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12;
Nơi ĐKHKTT: Xóm TT, xã TM, huyện CM. tỉnh BK. Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định, hiện đang bị quản lý tại cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên từ ngày 11/4/2022. Nghề nghiệp: Làm Ruộng; Con ông: Hà Đức H, sinh năm 1967 và con bà: Hà Thị T, sinh năm 1967
Tiền sự: Không.
Tiền án: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Sông Công tỉnh Thái Nguyên xử phạt 9 tháng tù giam về tội Trộm Cắp tài sản.
Nhân thân: Ngày 28/02/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
(Anh Hà Đức T có mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đồng Thị Hạnh, Chức vụ: Phó trưởng Phòng Lao động Thương Binh và Xã hội thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Ông Vũ Xuân Đại, chức vụ: Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại bản tường trình, biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đã xác định, biên bản xác minh về việc xác định nơi cư trú: Hà Đức T có hộ khẩu thường trú tại xóm Xóm TT, xã TM, huyện CM, tỉnh BK. T thường xuyên vắng mặt tại nơi thường trú và đi lang thang, nơi sinh sống không cố định. T sử dụng ma túy từ tháng 1/2012 cho đến nay chưa từ bỏ được, loại ma túy thường sử dụng là Heroin và hình thức sử dụng là tiêm chích. Lần sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 10/04/2022, nguồn gốc số ma túy đã sử dụng do anh T mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu gia Bẩy, thành phố TN.
Vào 00 giờ 45 phút, ngày 11/04/2022 Công an phường Đồng Quang phát hiện lập biên bản sự việc, đã phối hợp với trạm y tế phường Đồng Quang kiểm tra tình trạng sử dụng chất ma túy đối với Hà Đức T, kết quả cho thấy T dương tính với Heroine. Ngày 11/04/2022 Chủ tịch UBND phường Đồng Quang đã lập biên bản vi phạm hành chính và T hành lập hồ sơ đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp hôm nay T thừa nhận bản thân nghiện ma túy từ tháng 1/2012 đến nay chưa từ bỏ được và lần sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 10/4/2022.
Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động thương binh xã hội thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm tại văn bản số 99/ĐN-CNBB ngày 19/4/2022, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Hà Đức T vào Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên trong thời hạn15 đến 18 tháng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Việc thiết lập hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố Thái Nguyên về việc đưa Hà Đức T vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên là đúng quy định, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng; Việc chấp hành pháp luật của Toà án kể từ khi thụ lý hồ sơ giải quyết đến khi mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là đảm bảo đúng luật, đúng thời gian cũng như thành phần tham gia phiên họp và trình tự tố tụng theo hướng dẫn tại Pháp lệnh trình tự xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Đức T với thời hạn là 15 đến 18 tháng.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có tại hồ sơ đề nghị và ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, cơ quan lập hồ sơ và Kiểm sát viên tham gia phiên họp thấy rằng:
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Đức T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Về thời hiệu: Ngày 11/4/2022, Công an phường Đồng Quang phối hợp với trạm y tế phường Đồng Quang kiểm tra tình trạng sử dụng chất ma túy đối với Hà Đức T kết quả cho thấy T dương tính với Heroine. T xác định lần sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 10/4/2022 . Do vậy, ngày 11/4/2022 Chủ tịch UBND phường Đồng Quang đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với T. Như vậy, đã thực hiện đúng và trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Đức T đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy; Theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhận thấy:
Bản thân Hà Đức T mắc nghiện ma túy từ năm 2012 đến nay chưa từ bỏ được, lần sử dụng gần đây nhất là ngày 10/4/2022, biên bản kiểm tra chất ma túy của trạm y tế phường Đồng Quang cho thấy Hà Đức T dương tính với Heroin. Do Hà Đức T không có nơi cư trú ổn định nên công an phường Đồng Quang đã giao Hà Đức T cho Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tại biên bản làm việc ngày 11/4/2022 của công an phường Đồng Quang thể hiện Hà Đức T không đăng ký, không thực hiện cai nghiện tự nguyện. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 14/4/2022 của cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên xác định anh Hà Đức T nghiện ma túy loại Heroin.
Quá trình xác minh tại địa phương xác định Hà Đức T không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên vắng mặt tại địa phương đi đâu làm gì không rõ, không thông báo cho địa phương biết.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh Hà Đức T là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước ta, nên cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Hà Đức T được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Theo lý lịch tóm tắt của Hà Đức T thể hiện có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, do đó phải chịu 01 tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định Hà Đức T là: “Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính thuộc trường hợp không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện ” theo quy định tại Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy và “Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định” theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét thấy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Hà Đức T một thời gian nhất định. Đề nghị của phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố Thái Nguyên là phù hợp, nhằm tạo điều kiện cho T được chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, lao động và học nghề, giúp Vịnh có điều kiện tái hoà nhập cộng đồng, xây dựng cuộc sống lành mạnh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, 96, 103, 104 và Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
Khoản 1 Điều 3; các Điều 20, 22, 23, 29, 30, và Điều 31, 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 quy định về: Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao; Điều 32 Luật phòng, chống ma túy và Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Đức T, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: Xóm TT, xã TM, huyện CM. tỉnh BK.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đến chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 32 của pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội thành phố Thái Nguyên phối hợp với Công an thành phố Thái Nguyên đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Phòng LĐ -TB&XH TP. Thái Nguyên; - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an thành phố Thái Nguyên; - UBND phường Đồng quang; - Người bị áp dụng ; - Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trần Thị Duyên |