- Tranh chấp gì? "Vi Văn N"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn (địa chỉ: Km 10, xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn) đối với:
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2022/QĐ-TA | TP. Lạng Sơn, ngày 27 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Dương Xuân Tĩnh
2. Thư ký phiên họp: Bà Đoàn Ngọc Dung
Ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 12/QĐ-TA ngày 21 tháng 7 năm 2022 đối với:
Họ và tên Vi Văn N
Giới tính: Nam
Sinh ngày 21 tháng 9 năm 1999;
Căn cước công dân: 082332065; ngày cấp 02/10/2014; nơi cấp: Công an tỉnh Lạng Sơn.
Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn M B, xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Hiện lang thang không có nơi cư trú ổn định.
Con ông Vi Văn Thế, sinh năm 1977 và bà Tô Thị H, sinh năm 1977.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 22-10-2020 bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng.
Vắng mặt tại phiên họp, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động Thương binh, Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Ông Hoàng Duy Trường; Phó trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (theo Quyết định về việc ủy quyền tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 435/QĐ-LĐTB&XH ngày 27-7-2022 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).
2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Ông Lộc Văn Trung - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, hành vi vi phạm của Vi Văn N được tóm tắt như sau: 11 giờ 30 phút ngày 10-6-2022, Công an phường Đ, thành phố L làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ 18 đường B, phường Đ, thành phố L thì phát hiện đối tượng Vi Văn N có biểu hiện vi phạm pháp luật, qua kiểm tra hành chính phát hiện đối tượng không có giấy tờ tùy thân, lang thang không có nơi cư trú. Do đó Công an phường đã đưa đối tượng về trụ để làm việc. Qua điều tra, đối tượng khai nhận tên là Vi Văn N, sinh ngày 21-9-1999, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Bản Mới B, xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, tuy nhiên hiện không có nơi cư trú ổn định. Qua kiểm tra và sử dụng que thử nhanh, phát hiện Vi Văn N dương tính với ma túy Heroin. Tại phiếu trả lời kết quả về xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 10-6-2022 của Trung tâm y tế thành phố Lạng Sơn xác định Vi Văn N nghiện ma túy Morphin/Heroine.
Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai, Vi Văn N thừa nhận bản thân đã nghiện ma túy từ năm 2020 và bị đưa đi cai nghiện bắt buộc đến tháng 9-2021 chấp hành cai nghiện trở về, từ tháng 2-2022 lại sử dụng ma túy cho đến nay và bị lệ thuộc vào chất ma túy, loại ma túy thường sử dụng là Heroin, cách sử dụng là tiêm chích. Lần gần nhất Vi Văn N sử dụng ma túy vào ngày 10-6-2022, hiện nay bản thân không có công việc ổn định, đến địa bàn thành phố L không có nơi ở cố định.
Theo Biên bản xác minh tại Công an xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn có nội dung: Vi Văn N có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn thôn Bản Mới B, xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Vi Văn N thường xuyên không có mặt tại nơi thường trú đi đâu làm gì, chính quyền địa phương không rõ.
Tại biên bản làm việc với bà Tô Thị H, là mẹ đẻ của Vi Văn N, bà Tô Thị H trình bày từ đầu năm 2022 đến nay Vi Văn N đi đâu làm gì gia đình không biết, khẳng định Vi Văn N không về nhà.
Ngày 13-6-2022, bà Tô Thị H xác nhận không đồng ý quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, do đó Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn quyết định giao Vi Văn N cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Theo các biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân S, Trung tâm y tế huyện L và lời khai của Vi Văn N đều thừa nhận Vi Văn N không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại tổ chức nào.
Ngày 10-6-2022, Ủy ban nhân dân phường Đ lập biên bản vi phạm đối với Vi Văn N về hành vi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, đồng thời thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại Công văn số 415/LĐTBXH ngày 20-7-2022 của Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Lạng Sơn, đề nghị xem xét quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N từ 18 đến 20 tháng.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn như trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn có ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và việc chấp hành của người tham gia phiên họp đều đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, các quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về nội dung xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính, hồ sơ đề nghị xem xét đã đầy đủ và đúng trình tự, thủ tục; căn cứ các Điều 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 1 và khoản 4 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy; các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý cai nghiện sau ma túy. Đề nghị chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với Vi Văn N trong thời hạn từ 18 tháng đến 20 tháng.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N đã đúng và đầy đủ theo quy định tại Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2020; Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý cai nghiện sau ma túy.
Về việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Theo các tài liệu có trong hồ sơ, Vi Văn N là người đủ 18 tuổi trở lên, là người nghiện chất ma túy loại Heroine, không có nơi cư trú ổn định, mặc dù đã được xác định tình trạng nghiện ma túy nhưng Vi Văn N không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện, do đó đủ căn cứ xác định Vi Văn N thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 32, khoản 2 Điều 40 Luật phòng chống ma túy, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2020.
Hành vi vi phạm của Vi Văn N gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, Vi Văn N biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý vi phạm, năm 2020 Vi Văn N bị Tòa án nhân dân huyện L ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tuy nhiên không lấy đó làm bài học sửa chữa và cai nghiện. Nên cần thiết phải đưa Vi Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian hợp lý để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, rèn luyện trở thành người công dân tốt. Không áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với Vi Văn N.
Xét tính chất, mức độ hành vi vi phạm, nhận thấy Vi Văn N có nhân thân chưa tốt, cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như đề nghị của phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn là phù hợp, có căn cứ.
Căn cứ vào các Điều 95, 96, 103, 104, 105, 106 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2020; khoản 1, khoản 4 Điều 32; khoản 2 Điều 40 Luật phòng, chống ma túy năm 2021; các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý cai nghiện sau ma túy; khoản 3 Điều 41 Nghị định 105/2021/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 04-12-2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24-10-2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn (địa chỉ: Km 10, xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn) đối với:
Vi Văn N, sinh ngày 21 tháng 9 năm 1999; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Bản Mới B, xã S, huyện L, Lạng Sơn.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 10-6-2022).
3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại Quyết định này của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố Lạng Sơn và Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng LĐ-TB&XH TP.Lạng Sơn; - Công an TP.Lạng Sơn; - VKSND TP.Lạng Sơn; - Phòng Tư pháp TP.Lạng Sơn; - UBND phường Đ; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Dương Xuân Tĩnh |