vanban.org

Quyết định 12/2020/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 14/02/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 19/2019/QĐST-DS ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Bà Phan Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004761 ngày 01/11/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Bà N đã nộp đủ án phí phúc thẩm. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm 1969; trú tại thôn L, xã N2, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi."
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 19/2019/QĐST-DS ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12 /2020/QĐ-PTĐà Nẵng, ngày 14 tháng 02 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO

ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Tấn Long.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Tấn Trường.

Ông Phạm Tồn.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 19/2019/QĐST-DS ngày 15/10/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 192; điểm g khoản 1 Điều 217; điều 218, Điều 219, 235 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và hủy việc chỉnh lý sang tên do chuyển nhượng tại phần IV của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm 1969; trú tại thôn L, xã N2, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện theo ủy quyền: gồm có bà Nguyễn Thị H; trú tại thôn L, xã N2, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.(Văn bản ủy quyền ngày 20/8/2018) và ông Nguyễn Chí H2, sinh năm 1958; địa chỉ: thôn A, xã P1, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi. (Văn bản ủy quyền ngày 14/10/2019).

Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1958; địa chỉ: thôn P, xã N1, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lâm Huỳnh Quốc V, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn B, xã N3, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1955; địa chỉ: thôn P, xã N1, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Văn phòng Công chứng S; đại chỉ: thôn Th, xã T1, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; người đại diện theo pháp luật có ông Phạm Xuân Th1 - Trưởng văn phòng.

- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ: 163 đường H2, thành phố Q; Người đại diện theo ủy quyền có bà Nguyễn Thị D - Phó giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh thành phố Q (theo Quyết định ủy quyền ngày 23/01/2018)

Tại Đơn kháng cáo ngày 22/10/2019 và Đơn kháng cáo bổ sung ngày 25/10/2019 bà Phan Thị N kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 19/2019/QĐST-DS ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục xét xử vụ án.

Tại phiên họp phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có ông Nguyễn Thế Vinh, Kiểm sát viên tham gia phiên họp có ý kiến đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm.

XÉT THẤY

Ngày 21-11-2017 bà Phan Thị N có Đơn khởi kiện tại Tòa án có nội dung yêu cầu: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn H1, bà Trần Thị T và ông Lâm Huỳnh Quốc V đối với thửa đất số 198, diện tích 206,4m2 tờ bản đồ số 05 tại thôn P, xã N1, thành phố Q, được Văn phòng Công chứng S công chứng số 1221 ngày 21-12-2015 là vô hiệu; giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, buộc ông Lâm Huỳnh Quốc V phải trả lại nhà và đất cho ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị T để thi hành án. Hủy việc chỉnh lý biến động sang tên ông Lâm Huỳnh Quốc V ngày 25-12-2015 trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 341389 ngày cấp 20-12-2011 đứng tên ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị T của thửa đất số 198, tờ bản đồ số 5, diện tích 206,4m2 tại thôn P, xã N1, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Tuy nhiên, nội dung các yêu cầu khởi kiện và các đối tượng khởi kiện nêu trên cũng đã được bà Nguyễn Thị H khởi kiện tại Tòa án; Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã đưa ra xét xử và đã ban hành Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2017/DS-ST ngày 21-7-2017. Bà Nguyễn Thị H kháng cáo và Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã có Bản án phúc thẩm số 21/2018/DS-PT ngày 16-01-2018 giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Quyết định đình chỉ số 19 nêu trên nhận định sự việc đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là có cơ sở và đúng pháp luật.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

Bà Phan Thị N phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 19/2019/QĐST-DS ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

2. Bà Phan Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004761 ngày 01/11/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Bà N đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ