vanban.org

Quyết định 12/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 14/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Xuân Th phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm a, k khoản 1 Điều 134, điểm p, q, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, Điều 87 và Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Xuân Th 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Xuân Th phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HỒNG LĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:12/2020/HSST
Ngày: 14/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lương Sỹ Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hải Dương

2. Ông Nguyễn Duy Cần

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Đức Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa, ông Nguyễn Thanh Đông - Kiểm sát viên.

Chiều ngày 14/5/2020 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2020/TLST - HS ngày 24/3/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST - HS, ngày 23 tháng 4 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/HSST - QĐ, ngày 06/5/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Xuân Th; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 12 tháng 02 năm 1990, tại: Thuận Lộc, Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên cha: Phan Nguyễn T, sinh năm 1954 (Đã chết). Họ và tên mẹ: Đinh Thị D, sinh năm 1956. Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang điều trị tại Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội tỉnh Hà Tĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa, sức khỏe bình thường.

Nhân thân: Tại bản án số 09/2007/HSST ngày 22/5/2007, Phan Xuân Th bị Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” và phải nộp 50.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm. Tháng 7 năm 2007, Phan Xuân Th đã thi hành xong. Đã được xóa án tích.

* Người bào chữa cho bị cáo Phan Xuân Th: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1977. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ: Số 103A Phan Đình Phùng, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phan Xuân Th: Bà Đinh Thị D, sinh ngày: 01/01/1956. Trú tại: Tổ dân phố A , phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).

* Người bị hại: Anh Nguyễn Đình T, sinh ngày: 15/01/1993. Nghề nghiệp: Cán bộ công an phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Trú tại: Tổ dân phố B, phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Lý T1, sinh ngày: 02/02/1982. Nghề nghiệp: Cán bộ công an phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Trú tại: Tổ dân phố B, phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Chị Võ Thị H, sinh ngày: 05/9/1987. Trú tại: Tổ dân phố A, phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

- Anh Thái Văn H, sinh ngày: 10/10/1989. Trú tại: Tổ dân phố A, phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

- Bà Đinh Thị D, sinh ngày: 01/01/1956. Trú tại: Tổ dân phố A, phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/7/2019, Phan Xuân Th đang ở nhà thì bà Đinh Thị D (mẹ của Th) đi làm về không mua thuốc lá cho Th nên Th dùng tay đấm vào vùng đầu bà D, bà D bỏ chạy và đi xe đạp lên Công an phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh trình báo. Khoảng 19 giờ 35 phút cùng ngày, đồng chí Trần Lý T1 mặc trang phục Công an nhân dân và đồng chí Nguyễn Đình T là cán bộ Công an phường Nam Hồng mặc thường phục đi hai xe mô tô đến trước cổng nhà bà D rồi đi bộ vào khu vực sân nhà thấy Th đang ngồi ở thềm. Lúc này, Th biết hai người đó là cán bộ Công an phường đến làm nhiệm vụ, lo sợ bị xử lý nên chạy vào khu vực bếp lấy một chiếc kéo ở trên giá Inox để bát đĩa dài khoảng 15 - 20 cm làm bằng kim loại, một mũi nhọn, một mũi bị gãy rồi chạy ra sân tay phải cầm kéo khuơ vào người đồng chí T1 nhưng đồng chí T1 lách ra được kéo chạm vào cánh tay trái làm xây xát nhẹ. Th tiếp tục lao vào đâm đồng chí T, tay phải Th cầm kéo đâm nhiều nhát vào người đồng chí T, trong đó có 01 nhát trúng vào đùi trái, 01 nhát trúng vào cánh tay phải và 01 nhát trúng vào mu bàn tay trái. Thấy vậy, đồng chí T1 chạy lại dùng công cụ hỗ trợ khống chế Th thì Th bỏ chạy đến bờ kênh gần nhà, vứt chiếc kéo xuống lòng kênh. Một lúc sau, Công an thị xã Hồng Lĩnh phát hiện Th đang ẩn nấp ở khu vực bờ kênh gần nhà nên yêu cầu Th về trụ sở Công an phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh để làm rõ.

Sau khi bị vết thương đồng chí Nguyễn Đình T được đưa đến Bệnh viện Đa khoa thị xã Hồng Lĩnh điều trị từ ngày 18/7/2019 đến ngày 22/7/2019 ra viện

Sau khi ra viện, đồng chí Nguyễn Đình T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và xin được giám định thương tật. Đồng chí Trần Lý T1 bị xây xát nhẹ nên không yêu cầu giám định thương tích.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 92/TgT ngày 16/8/2019 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Hà Tĩnh đối với Nguyễn Đình T, Kết luận: Mặt ngoài 1/3 giữa cánh tay phải sẹo vết thương kích thước 0,6 cm x 0,5cm; mu bàn tay trái sẹo vết thương kích thước 1,5 cm x 0,4cm; mặt ngoài 1/3 trên đùi trái sẹo vết thương kích thước 0,7cm x 0,2cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03% (ba phần trăm). Thương tích do vật sắc, nhọn tác động trực tiếp vào gây nên.

Kết luận giám định pháp y tâm thần số 438/KLGĐ ngày 28/11/2019 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định đối tượng Phan Xuân Th có bệnh rối loạn loại phân liệt. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F21. Tại các thời điểm trên đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Về vật chứng: Ngày 18/7/2019, Cơ quan điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh đã tiến hành xác minh và đến khu vực địa điểm nơi Phan Xuân Th vứt chiếc kéo dài khoảng 15 - 20 cm làm bằng kim loại, một mũi nhọn, một mũi bị gãy nhưng không thu giữ được.

Về phần dân sự: Người bị hại đồng chí Nguyễn Đình T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng chí Trần Lý T1 không yêu cầu Phan Xuân Th bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, vật chứng thu giữ như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSND - TXHL ngày 23/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Phan Xuân Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, k khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm a, k khoản 1 Điều 134, điểm p, q, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Xuân Th từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng: Ngày 18/7/2019, Cơ quan điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh đã tiến hành xác minh và đến khu vực địa điểm nơi Phan Xuân Th vứt chiếc kéo dài khoảng 15 - 20 cm làm bằng kim loại, một mũi nhọn, một mũi bị gãy nhưng không thu giữ được nên đề nghị HĐXX miễn xét.

Về phần dân sự: Người bị hại đồng chí Nguyễn Đình T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng chí Trần Lý T1 không yêu cầu Phan Xuân Th bồi thường về trách nhiệm dân sự vì vậy đề nghị HĐXX miễn xét.

Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật nặng hàng tháng được hưởng trợ cấp của Nhà nước đề nghị HĐXX miễn toàn bộ án phí đối với bị cáo.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo như sau: Về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo tôi không có ý kiến gì. Đối với trách nhiệm hình sự tôi thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cao so với hành vi phạm tội củng như nhân thân, hoàn cảnh bệnh tật của bị cáo, bên cạnh đó bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Sau khi nghe quan điểm của người bào chữa cho bị cáo, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đối đáp như sau: Mặc dù thời điểm phạm tội bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nhưng bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo rất manh động, thể hiện sự liều lĩnh, bị cáo đã từng bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo thực hiện hành vi cố ý gây thương tích đối với cán bộ Công an khi đang thi hành công vụ, vì vậy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phú hợp với tính chất của vụ án, nhân thân của bị cáo, cho nên đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên không thay đổi quan điểm của mình.

Bị cáo tại phiên tòa trình bày lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi của bị cáo Phan Xuân Th là dùng chiếc kéo dài khoảng 15 - 20 cm làm bằng kim loại, một mũi nhọn, một mũi bị gãy có sẵn trong nhà gây thương tích cho đồng chí Nguyễn Đình T, làm đồng chí Trần Lý T1 xây xát nhẹ, hai đồng chí là cán bộ Công an phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh lúc hai đồng chí đang thực hiện nhiệm vụ, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của người khác, là nguy hiểm cho xã hội, đồng thời gây ảnh hưởng lớn đến trật tự quản lý xã hội trên địa bàn thị xã. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định đối tượng Phan Xuân Th có bệnh rối loạn loại phân liệt. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F21. Tại các thời điểm trên đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, khi thực hiện hành vi bị cáo đã chủ động hoàn toàn, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mục đích, động cơ phạm tội là do trước đó bà Đinh Thị D mẹ đẻ của bị cáo đi chợ về không mua thuốc lá cho bị cáo, nên bị cáo đã đấm vào mặt, vào đầu bà D, vì vậy khi có mặt của hai đồng chí Công an bị cáo bị kích động về mặt tinh thần, khó kiểm soát được hành vi. Với thương tích của đồng chí Nguyễn Đình T là 03% (ba phần trăm), đồng chí Tưởng bị xây xát nhẹ ngoài da. Hai đồng chí này hiện công tác tại Công an phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, thương tích của hai đồng chí do vật sắc, nhọn tác động trực tiếp vào gây nên. Thương tích cho đồng chí T và đồng chí T1 là chiếc kéo của gia đình, dài khoảng 15 - 20 cm làm bằng kim loại, một mũi nhọn, một mũi bị gãy. Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ- HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì các công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sinh hoạt) kéo sắc, nhọn được xem là “hung khí nguy hiểm”. Với thời gian, địa điểm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, khẳng định được rằng hành vi của bị cáo Phan Xuân Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Phan Xuân Th thể hiện sự chống đối, cản trở, đồng thời sử dụng hung khí nguy hiểm gây gây thương tích cho người đang thi hành công vụ. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phan Xuân Th đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người khuyết tật nặng hàng tháng được hưởng trợ cấp của Nhà nước; đang bị bệnh rối loạn loại phân liệt (theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F21) và bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo là đủ. Việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Xuân Th không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phan Xuân Th đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người khuyết tật nặng hàng tháng được hưởng trợ cấp của Nhà nước; đang bị bệnh rối loạn loại phân liệt (theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F21) và bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Ngày 18/7/2019, Cơ quan điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh đã tiến hành xác minh và đến khu vực địa điểm nơi Phan Xuân Th vứt chiếc kéo dài khoảng 15 - 20 cm làm bằng kim loại, một mũi nhọn, một mũi bị gãy nhưng không thu giữ được nên HĐXX miễn xét.

Về phần dân sự: Người bị hại đồng chí Nguyễn Đình T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng chí Trần Lý T1 không yêu cầu Phan Xuân Th bồi thường về trách nhiệm dân sự vì vậy HĐXX miễn xét.

Những người liên quan trong vụ án: Đồng chí Trần Lý T1 là người được phân công đến tổ dân phố 8, phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh thực hiện nhiệm vụ thì bị Phan Xuân Th gây thương tích nhưng chỉ xây xát nhẹ, không yêu cầu giám định về thương tích, không yêu cầu xử lý về hình sự. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hành vi của Phan Xuân Th. Đối với hành vi đánh đập mẹ là bà Đinh Thị D của Phan Xuân Th ở mức độ không gây ra thương tích bà D củng không yêu cầu xử lý nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Phan Xuân Th. HĐXX thấy việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh xử lý như vậy là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật nên HĐXX miễn xét.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng xử lý về hình phạt, trách nhiệm dân sự, vật chứng và án phí như trong bản luận tội đã nêu và thể hiện rõ quan điểm đối đáp với người bào chữa cho bị cáo. Căn cứ vào hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đề nghị và quan điểm đối đáp của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận và sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt và các vấn đề khác liên quan.

Sau khi nghe quan điểm của người bào chữa cho bị cáo HĐXX thấy rằng: Những nội dung mà người bào chữa cho bị cáo thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử không xem xét. Bên cạnh đó người bào chữa cho bị cáo đã phân tích các yêu tố về nhân thân, bệnh tình của bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, HĐXX thấy rằng quan điểm đó là có cơ sở và sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì phiên tòa sẽ được diễn ra vào hồi 07 giờ 00 phút ngày 06/5/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, đến ngày giờ địa điểm nêu trên bị cáo vắng mặt tại phiên tòa vì sự kiện bất khả kháng. Vì vậy HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa sẽ được diễn ra vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 14/5/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh là hoàn toàn có cơ sở và đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật nặng hàng tháng được hưởng trợ cấp của Nhà nước nên miễn toàn bộ án phí đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Xuân Th phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm a, k khoản 1 Điều 134, điểm p, q, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, Điều 87 và Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Xuân Th 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho chính quyền UBND phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn toàn bộ án phí hình sự sư thẩm đối với bị cáo.

Án xử công khai, bị cáo, bị hại, người bào chữa, người đại diện cho bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, những người trên vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ