vanban.org

Quyết định 12/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị D. Tuyên bố anh Hoàng Văn H đã chết . Xác định thời gian anh Hoàng Văn H đã chết là ngày 01/01/2002.

Khi quyết định này có hiệu lực pháp luật thì tất cả các quan hệ về hôn nhân, gia đình, quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân khác của anh Hoàng Văn H được giải quyết như đối với người đã chết. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Buộc chị Phạm Thị D phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí sơ thẩm g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị D. Tuyên bố anh Hoàng Văn H đã chết . Xác định thời gian anh Hoàng Văn H đã chết là ngày 01/01/2002.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
–––––––––––––––
Số: 12/2019/QĐST - DS
Ngày: 28 - 11 - 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lan Phương

Thư ký phiên họp: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên họp: Ông Tạ Phong Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 09/2019/TBTL-VDS ngày 20 tháng 6 năm 2019 về việc Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số: 09/2019/QĐST-VDS ngày 25 tháng 11 năm 2019 đối với:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị D, sinh năm 1972. Nơi cư trú: xóm 2, thôn Sơn Tùng, xã Quảng Tùng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1969. Nơi cư trú cuối cùng: xóm 2, thôn Sơn Tùng, xã Quảng Tùng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI D VIỆC DÂN SỰ:

Theo nội D đơn yêu cầu ngày 15/5/2019, bản tự khai và tại phiên họp, bên yêu cầu giải quyết việc dân sự là chị Phạm Thị D trình bày:

Chị và anh Hoàng Văn H có quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào năm 1991. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2001, anh Hoàng Văn H đã tự ý bỏ nhà đi, đi đâu làm gì không nói cho chị D và các con biết. Chị D và gia đình đã thông báo cho chính quyền địa phương tổ chức tìm kiếm khắp nơi nhưng đến nay vẫn không biết anh H ở đâu làm gì, còn sống hayđã chết. Chị D đã tiến hành làm các thủ tục đăng báo Công lý, nhắn tin qua Đài tiếng nói Việt Nam. Cụ thể, đăng tin trên báo Công lý ba số liên tiếp 58, 59, 60 ngày 23, 26,30/7/2019; phát thông báo nhắn tin qua Đài tiếng nói Việt Nam lúc 17 giờ 50 phút các ngày 21, 22, 23/7/2019 nhưng vẫn không có kết quả. Chị D yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Hoàng Văn H là đã chết.

Quá trình chung sống chị D và anh H có 03 con chung tên là Hoàng Phi Q, sinh ngày 12/01/1992; Hoàng Quốc C, sinh ngày 18/12/1993 và Hoàng Á T, sinh ngày 09/9/2001.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình là nơi cư trú cuối cùng của anh H. Kết quả xác minh thể hiện, anh H có hộ khẩu thường trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình đến thời điểm năm 2001. Đến năm 2001 anh H đã bỏ đi khỏi địa phương đến nay không rõ tung tích, địa chỉ. Khi đi anh H không làm thủ tục cắt chuyển hộ khẩu hay xin giấy tạm vắng từ chính quyền địa phương, không thông tin, liên lạc gì về cho gia đình. Gia đình và chị D đã tổ chức tìm kiếm thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay vẫn không rõ tung tích về anh H.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu ý kiến: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 68; điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự, Điều 361 và Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị D, tuyên bố anh Hoàng Văn H là đã chết vào ngày 01/01/2002.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên hop, ý kiến của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch nhận định:

Về tố tụng: Chị Phạm Thị D và anh Hoàng Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn hợp pháp vào năm 1991 theo xác nhận của UBND xã Quảng Tùng nên chị D có quyền yêu cầu tuyên bố anh H là đã chết theo quy định của pháp luật. Nơi cư trú cuối cùng của anh H trước khi biệt tích là xã Quảng Tùng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình vì vậy việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch theo quy định tại điều 27, 35 và điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Phạm Thị D và anh Hoàng Văn H có quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào năm 1991. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 03 người con. Đến năm 2001 thì anh H đã bỏ nhà đi, đi đâu không rõ tung tích, địa chỉ. Chị D và gia đình đã tổ chức tìm kiếm nhưng vẫn không rõ tung tích về anh H. Chính quyền địa phương cũng đã xác nhận anh Hoàng Văn H đã bỏ đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì. Chi D yêu cầu yêu cầu tuyên bố anh Hoàng Văn H là đã chết.

Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 22/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch tại Công an xã Q là nơi cư trú cuối cùng của anh H, xác định được anh Hoàng Văn H có hộ khẩu thường trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình đến thời điểm năm 2001. Anh H đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2001 đến nay không thấy anh H trở về. Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với anh Hoàng Văn H; đã đăng tải nội D Quyết định thông báo trên các phương tiện thông tin. Cụ thể đăng tin trên báo Công lý ba số liên tiếp 58, 59, 60 ngày 23, 26, 30/7/2019; phát thông báo nhắn tin qua Đài tiếng nói Việt Nam lúc 17 giờ 50 phút các ngày 21,22,23/7/2019 nhưng vẫn không có kết quả. Việc chị D làm thủ thục đăng báo, đăng tin, phát sóng để tìm kiếm anh H đã tuân thủ theo quy định của pháp luật và thời gian đăng tin, phát thông báo lần đầu tiên là các ngày 21, 22, 23/7/2019 đến nay đã hơn 04 tháng nên việc chị D yêu cầu Tòa án tuyên bố anh H là đã chết là hoàn toàn có cơ sở.

Như vậy, căn cứ khoản 1 Điều 68; điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự xác định anh H biệt tích từ năm 2001 đến nay. Về xác định ngày chết, chị D cho rằng anh H biệt tích từ năm 2001 đến nay nhưng chị không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để xác định anh H bỏ đi từ năm 2001 theo biên bản xác minh tại Công an xã Quảng Tùng xác định anh H rời khỏi địa phương từ năm 2001, không có tin tức gì, không xác định được ngày tháng nên căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”. Như vậy, có cơ sở để xác định ngày chết của anh H là ngày 01/01/2002.

Về lệ phí: Chị Phạm Thị D phải nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- khoản 1 Điều 68; Điểm d Khoản 1, Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Khoản 4 Điều 27, Điều 361 và Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 4, Điều 9 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị D. Tuyên bố anh Hoàng Văn H đã chết . Xác định thời gian anh Hoàng Văn H đã chết là ngày 01/01/2002.

Khi quyết định này có hiệu lực pháp luật thì tất cả các quan hệ về hôn nhân, gia đình, quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân khác của anh Hoàng Văn H được giải quyết như đối với người đã chết.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Buộc chị Phạm Thị D phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự để sung vào công quỹ Nhà nước. Số tiền mà chị D phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng mà chị D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch theo biên lai số 0001361 ngày 19/6/2019. Chị D đã nộp đủ tiền lệ phí.

Chị Phạm Thị D có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày mở phiên họp (ngày 28/11/2019).

THẨM PHÁN

Cỡ chữ