- Tranh chấp gì? "QUYẾT ĐỊNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Trí T.
- Căn cứ chính? Điều 108 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH N ---------=--------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2017/QĐ-TA | G, ngày 14 tháng 8 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH N
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán: ¤ng Hµ ThiÖn Thµnh.
- Thư ký phiên họp: Bà Bïi Hång M¬.
Ngày 14/8/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện G, tỉnh N tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 14/2017/QĐ-TA ngày 10/8/2017 đối với:
Họ và tên: Bùi Trí T; Giới tính: Nam; sinh năm 1972; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Líp 7/10.
Nguyên quán: X· G, huyÖn G, tØnh N.
Hộ khẩu thường trú: Xóm 2, thôn T, xã G, huyÖn G, tØnh N.
Chỗ ở hiện nay: Xóm 2, thôn T, xã G, huyÖn G, tØnh N.
Con ông: Bùi Trí K và bà Bùi Thị K.
Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 18/8/2016, bị Công an huyện G, tỉnh N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 08/11/2016, bị Chủ tịch UBND xã G, huyÖn G, tØnh N ra Quyết định về việc ¸p dông biÖn ph¸p gi¸o dôc t¹i x· trong thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
V¾ng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà An ThÞ Mïi- Chøc vô: Phã phßng lao ®éng th ¬ng binh vµ x· héi huyÖn G, tØnh N là đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/8/2017).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh N tham gia phiªn häp: Ông Trần Thanh Hà- Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Bùi Trí T lµ ®èi t îng nghiện ma túy từ năm 2004 cho đến nay, ngày 22/11/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh H xử phạt 30 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 08/11/2016, bị Chủ tịch UBND xã G, huyÖn G, tØnh N ra Quyết định về việc ¸p dông biÖn ph¸p gi¸o dôc t¹i x· trong thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên T không lấy đó là bài học, để từ bỏ ma túy mà lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 30/6/2017, bị Công an xã G, huyện G bắt quả tang. Trên cơ sở đó ngày 07/7/2017, bị Công an xã G, huyÖn G, tØnh N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bằng hình thức phạt tiền.
Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện G vẫn giữ nguyên quan điểm như Công văn số 78/LĐ-TB&XH, ngày 04/8/2017 đề nghị Tòa án nhân dân huyện G xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Trí T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp hành chính như sau: Về mặt trình tự, thủ tục các cơ quan đã tuân thủ đúng theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 2212013/NĐ-CP ngày 30/12/2013. Đã có đủ căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Trí T.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra xem xét tại phiên họp; Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G.
XÉT THẤY:
Bùi Trí T lµ ®èi t îng nghiện ma túy từ năm 2004. Bản thân T ngày 22/11/2010 đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh H xử phạt 30 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 18/8/2016, bị Công an huyện G, tỉnh N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 500.000 đồng; ngày 08/11/2016, bị Chủ tịch UBND xã G ra quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã G, huyện G, tỉnh N trong thời hạn 06 tháng đều về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng T vẫn không từ bỏ ma túy, mặc dù được gia đình, chính quyền địa phương và các đoàn thể đã nhiều lần cảm hóa, giáo dục và tạo điều kiện cho T cai nghiện tại gia đình, giáo dục tại địa phương, nhưng T không lấy đó làm bài học cho mình, quyết tâm từ bỏ mà ngày 30/6/2017, lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại bãi đất trống đê Đầm Cút thuộc địa phận xóm 1, thôn T, xã G, huyện G, tỉnh N và bị Công an xã G, huyện G bắt quả tang. Trên cơ sở đó, ngày 07/7/2017, bị Tr ëng Công an xã G, huyÖn G, tØnh N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đây là tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó chứng tỏ Bùi Trí T có nhân thân xấu. Bản thân Bùi Trí T nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm, nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội, nhưng T vẫn cố ý thực hiện. Điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật và không có tiến bộ trong việc tự cai nghiện của Bùi Trí T. Do vậy, việc công an xã G lập hồ sơ, phòng Tư pháp, phòng Lao động thương binh và xã hội huyện G đề nghị Tòa án nhân dân huyện G xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Bùi Trí T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận. Xét bản thân Bùi Trí T nghiện ma túy đã lâu, đã có thời gian cai nghiện tự nguyện tại gia đình nhưng vẫn chưa cai nghiện thành công, cho nên cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Trí T với thời hạn tối đa theo quy định của pháp luật, để đảm bảo đủ thời gian cai nghiện thành công, sớm giúp T trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Vì các lẽ trên.
Áp dụng:
- Điểm b khoản 1 Điều 10; khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2,3 Điều 108; Khoản 1, khoản 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính.
- Khoản 1 Điều 23; Điều 30; Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Trí T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này, hoặc quyết định được niêm yết công khai.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện G chủ trì, phối hợp với Phòng lao động thương binh và xã hội huyện G đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh N - Công an huyện G; - VKSND huyện G; - Phòng LĐTB và XH huyện G; - UBND xã G; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ, vp./. | TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN Thẩm phán (Đã ký) Hà Thiện Thành |