vanban.org

Quyết định 118/QĐ-TA

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/03/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T;

Ông Lê Đức T có quyền khiếu nại, Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Quận 8 có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 có quyền kháng nghị đối với quyết định này trong thời hạn là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Le Duc T"
  • Tòa quyết gì? Không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T;
  • Căn cứ chính? Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 41 Nghị định số 105/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…; Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 118/QĐ-TAQuận 8, ngày 13 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Không áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Bùi Thành Trung

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Anh Tú

Ngày 13 tháng 3 năm 2024, tại Phòng họp trực tuyến (điểm cầu trung tâm tại trụ Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Số 126 Lê Quyên, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Cơ sở cai nghiện ma tuý Thanh Thiếu Niên 2; Địa chỉ: Ấp 3, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.), Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp giải quyết hồ sơ thụ lý số 122/TB-TLHS ngày 06/3/2024, về việc: “Xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số 122/QĐ-TA ngày 08 tháng 3 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Lê Đức T; Sinh năm 1989; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Nơi đăng ký thường trú: đường L, phường T, quận K, Thành phố Hà Nội.

Chỗ ở hiện nay (Nơi đăng ký tạm trú): Ấp T, xã P, thành phố T, tỉnh T.

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông Lê Xuân A và bà Nguyễn Thị Phương H.

Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Đạt Khương là người đại diện theo ủy quyền của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 8.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8: Bà Nguyễn Thị Duyên, Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 16/12/2023, Công an Phường 7 Quận 8 lập Biên bản vi phạm hành chính đối với ông Lê Đức T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do trước đó ông Lê Đức T có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an Phường 7 Quận 8 kết hợp với cơ quan y tế tiến hành xét nghiệm nước tiểu ông Lê Đức T, kết quả dương tính với chất ma túy loại MET (Methamphetamine).

Tại Bản tường trình ngày 16/12/2023, ông Lê Đức T thừa nhận mình có sử dụng ma tuý lần đầu tiên vào ngày 10/12/2023; Ngày 16/12/2023, Công an Phường 7 Quận 8 xác minh ông Lê Đức T không thực tế cư trú tại: đường L, phường T, quận K, Thành phố Hà Nội. Tại Biên bản làm việc ngày 24/12/2023, ông Lê Đức T trình bày do bản thân và gia đình có khó khăn về kinh tế, không đủ điều kiện để đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Ngày 29/12/2023, Công an Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã giao Thông báo số 02/TB-UBND ngày 28/12/2023 của Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 8 để thông báo cho ông Lê Đức T biết về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông và ngày 31/12/2023 ông Lê Đức T đã được đọc hồ sơ này. Ngày 03/01/2024, Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 8 ban hành Văn bản 02/ĐN-CNBB chuyển hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Quận 8. Ngày 21/02/2024, Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Quận 8 ban hành Văn bản số 193/LĐTBXH về việc “Đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với ông Lê Đức T và kèm theo hồ sơ gửi Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 12/3/2024, Tòa án nhận được Đơn xác nhận nơi cư trú đề ngày 28/02/2024 của ông Lê Xuân A, sinh năm 1963 (là cha của ông Lê Đức T) (gửi qua dịch vụ bưu chính ngày 08/3/2024), về việc được Trưởng Công an xã P, thành phố T, tỉnh T xác nhận: “ Đ/s: Lê Đức T, sinh năm 1989 có đăng ký tạm trú tại Ấp T, xã P, thành phố T, tỉnh T, thường xuyên sinh sống tại địa phương.”. Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Quận 8, ông Lê Đạt Khương trình bày: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma tuý của ông Lê Đức T được lập theo thủ tục đối với người nghiện ma tuý không có nơi cư trú ổn định, cụ thể Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi ông Lê Đức T có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện băt buộc. Do tại phiên họp phát sinh tình tiết mới về xác định nơi cư trú của ông Lê Đức T là có nơi cư trú ổn định và đã được xác nhận của Trưởng Công an xã P, thành phố T, tỉnh T. Nên không thuộc thẩm quyền lập hồ sơ của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, và đề nghị của cơ quan đề nghị là Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Đề nghị Tòa án nhân dân Quận 8 ban hành quyết định không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T và chuyển đối tượng về Ấp T, xã P, thành phố T, tỉnh T để giải quyết theo quy định. Tại phiên họp, người bị đề nghị, ông Lê Đức T trình bày: Ông xác nhận mình là người nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định là tại Ấp T, xã P, thành phố T, tỉnh T và cha là ông Lê Xuân A đã làm đơn xác nhận của Trưởng Công an xã P, thành phố T, tỉnh T để bảo lãnh về gia đình. Do lúc sử dụng ma túy tinh thần không ổn định, không hiểu rõ thủ tục nên chưa thể thông báo gia đình để cung cấp chứng cứ để xác nhận mình có nơi cư ổn định trú tại Ấp T, xã P, thành phố T, tỉnh T và làm các thủ tục đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ông Lê Đức T đồng ý với đề nghị của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Quận 8.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh bà Nguyễn Thị Duyên phát biểu ý kiến:

Về trình tự, tủ tục lập hồ sơ của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị của Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh và thụ lý, mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phòng, chống ma túy và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Do phát sinh tình tiết mới về nơi cư trú ổn định của ông Lê Đức T tại Ấp T, xã P, thành phố T, tỉnh T và tại phiên họp ông Lê Đức T xác nhận mình có nơi cư trú ổn định và sinh sống cùng cha là ông Lê Xuân A tại Ấp T, xã P, thành phố T, tỉnh T được Trưởng Công an xã P, thành phố T, tỉnh T xác nhận thường xuyên sinh sống tại địa phương. Đồng thời, đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T là phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và quy định pháp luật.

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 103, Khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

Căn cứ Khoản 2 Điều 40 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Khoản 2 Điều 41 Nghị định số 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống ma túy.

Việc ban hành quyết định không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đức T theo đề nghị của cơ quan đề nghị là phù hợp quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phòng, chống ma túy và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

XÉT THẤY:

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ, chuyển hồ sơ đề nghị và thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với ông Lê Đức T của cơ quan đề nghị:

Tại Đơn xác nhận nơi cư trú đề ngày 28/02/2024 của ông Lê Xuân A, sinh năm 1963 (là cha của ông Lê Đức T) (gửi qua dịch vụ bưu chính ngày 08/3/2024), về việc được Trưởng Công an xã P, thành phố T, tỉnh T xác nhận: “ Đ/s: Lê Đức T, sinh năm 1989 có đăng ký tạm trú tại Ấp T, xã P, thành phố T, tỉnh T, thường xuyên sinh sống tại địa phương.”, trình bày trong đơn của ông Lê Xuân A và lời trình bày của ông Lê Đức T, cơ quan đề nghị tại phiên họp là có cơ sở để xác định ông Lê Đức T có nơi cư trú ổn định là tình tiết mới. Do ông Lê Đức T có nơi cư trú ổn định và thường xuyên sinh sống tại Ấp T, xã P, thành phố T, tỉnh T, nên về trình tự, thủ tục lập hồ sơ, chuyển hồ sơ đề nghị và thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có nơi cư trú ổn định là thuộc thẩm quyền lập hồ sơ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, thành phố T, tỉnh T, thẩm quyền đề nghị của Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố T, tỉnh T và thẩm quyền xem xét, quyết định của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh T. Do phát sinh tình tiết mới dẫn đến trình tự, thủ tục lập hồ sơ, chuyển hồ sơ đề nghị và thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính chưa đúng trình tự, thủ tục luật định. Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điểm a Khoản 1 Điều 103, Khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Khoản 2 Điều 40 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Khoản 2 Điều 41 Nghị định số 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống ma túy. Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận đề nghị của cơ quan đề nghị không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Lê Đức T. [2] Về phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8: Việc xem xét, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, tình tiết mới phát sinh tại phiên họp, đúng theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên, Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 21; Điều 23, Điều 24, Điều 25; Điều 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Áp dụng khoản 2 Điều 5; điểm d, khoản 2 Điều 6; khoản 1 Điều 96; điểm a khoản 1 Điều 103, khoản 2 Điều 105; các Điều 106, 107 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Áp dụng Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý số 73/2021/QH14 ngày 30/3/2021; Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 41 Nghị định số 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống ma túy.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T;

2. Ông Lê Đức T có quyền khiếu nại, Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Quận 8 có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 có quyền kháng nghị đối với quyết định này trong thời hạn là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

4. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh Thiếu Niên 2, Thành phố Hồ Chí Minh; Cơ quan, tổ chức có liên quan và ông Lê Đức T có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ