- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 118/2022/QĐST-DS | Quận 11, ngày 29 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lý Trần Ngọc Phương.
Thư ký phiên họp: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 35/2022/TLST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 20/2022/QĐST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1946; địa chỉ: Số X đường Đội Cung, Phường Xx, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi đối với ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1948; địa chỉ: Số X đường Đội Cung, Phường Xx, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Viết B, sinh năm: 1963; địa chỉ: Số X đường Đội Cung, Phường Xx, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
1. Bà Nguyễn Thị T là người yêu cầu, trình bày:
Cha mẹ bà Nguyễn Thị T là ông Nguyễn Viết N (sinh năm: 1909, chết năm 1985) và bà Ngô Thị Q (sinh năm: 1919, chết năm 1995) chung sống với nhau và có 08 (tám) người con chung, gồm:
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1941, chết năm: 2020;
- Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm: 1943, chết năm: 2021;
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1946;
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1948;
- Ông Nguyễn Viết H3, sinh năm: 1949, chết năm: 1973;
- Ông Nguyễn Viết U, sinh năm: 1954, chết năm: 2020;
- Ông Nguyễn Viết N2, sinh năm:1957, chết năm: 2021;
- Ông Nguyễn Viết B, sinh năm: 1963.
Em ruột bà Thiệt là ông Nguyễn Văn T2 từ nhỏ bị chậm phát triển tâm thần nên khó khăn trong nhận thức mọi thứ; không tự chăm sóc bản thân được, cuộc sống hằng ngày phải cần có người khác giúp đỡ.
Ông Nguyễn Văn T2 không có vợ con.
Nay, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1948; địa chỉ: Số X đường Đội Cung, Phường Xx, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đồng thời chỉ định bà Nguyễn Thị T làm người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T2.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Viết B xác nhận lời trình bày của bà Nguyễn Thị T là đúng, thống nhất với yêu cầu của bà Thiệt và không có ý kiến nào khác.
3. Tại phiên họp hôm nay:
Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin vắng mặt.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến, nội dung như sau:
a) Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán và Hội đồng giải quyết việc dân sự đã tuân thủ các quy định của pháp luật; người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án chưa đảm bảo thời hạn ban hành Quyết định phân công Thẩm phán thụ lý giải quyết việc dân sự, quyết định ban hành chưa đúng mẫu và chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu.
b) Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc Yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn T2 là một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Bà Nguyễn Thị T không phải chịu lệ phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Bà Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1948; địa chỉ: Số X đường Đội Cung, Phường Xx, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đây là yêu cầu về dân sự, ông Nguyễn Văn T2 hiện đang cư trú tại Quận 11 nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh theo điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về các yêu cầu của các đương sự:
2.1 Xét lời trình bày của Bà Nguyễn Thị T:
Cha mẹ bà Nguyễn Thị T là ông Nguyễn Viết N (sinh năm: 1909, chết năm 1985) và bà Ngô Thị Q (sinh năm: 1919, chết năm 1995) chung sống với nhau và có 08 (tám) người con chung, gồm: bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1941, chết năm: 2020; bà Nguyễn Thị B1, sinh năm: 1943, chết năm: 2021; bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1946; ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1948; ông Nguyễn Viết H3, sinh năm: 1949, chết năm: 1973; ông Nguyễn Viết U, sinh năm: 1954, chết năm: 2020; ông Nguyễn Viết N2, sinh năm:1957, chết năm: 2021 và ông Nguyễn Viết B, sinh năm: 1963.
Ông Nguyễn Văn T2 từ nhỏ bị chậm phát triển tâm thần nên khó khăn trong nhận thức mọi thứ; không tự chăm sóc bản thân được, cuộc sống hằng ngày phải cần có người khác giúp đỡ. Ông Nguyễn Văn T2 không có vợ con.
Nay, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1948; địa chỉ: Số X đường Đội Cung, Phường Xx, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đồng thời chỉ định bà Nguyễn Thị T làm người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T2.
2.2 Xét lời trình bày của ông Nguyễn Viết B:
Ông Nguyễn Viết B xác nhận lời trình bày của bà Nguyễn Thị T là đúng, thống nhất với yêu cầu của bà Thiệt và không có ý kiến nào khác.
Như vậy: Việc Bà Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố Nguyễn Văn T2 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đồng thời chỉ định bà Nguyễn Thị T làm người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T2 đều được sự thống nhất từ các chị em của bà Thiệt và ông Thà, là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc.
Căn cứ pháp lý để giải quyết yêu cầu:
3.1 Căn cứ Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền và nghĩa vụ của người giám hộ.”
3.2 Căn cứ kết quả cung cấp chứng cứ của Công an Phường 11, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh:
“ Căn cứ hồ sơ lưu trữ tại tàng thư hộ khẩu công an Quận 11 hộ 27217 – 003392:
- Tại bản khai nhân khẩu ngày 10/3/1970, ông Nguyễn Văn T2 không có vợ và con đẻ, con nuôi.
- Cha ông Thà tên: Nguyễn Viết N, sn: 1909, mẹ tên Ngô Thị Q, sn: 1919. Không có thông tin về năm chết của cha mẹ ông T2.
- Quan hệ gia đình anh, chị, em của ông T2: Tại tờ khai gia đình ngày 10/12/1967: Chị Nguyễn Thị B1, sn: 1943; chị Nguyễn Thị T, sn: 1946; em Nguyễn Viết H, sn: 1949 (chết 1973); em Nguyễn Viết U, sn: 1954 (chết 2020); em Nguyễn Viết N2: 1957; em Nguyễn Viết B, sn: 1963.
Tại tờ khai gia đình của ông T2 còn 01 người chị tên Nguyễn Thị H, sn: 1941.”
3.3 Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 1212/KLGĐ ngày 13/12/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả giám định pháp y tâm thần đối với ông Nguyễn Văn T2 như sau:
“Kết luận:
1.1 Về y học:
Đương sự bị sa sút tâm thần do bệnh mạch máu não (F01-ICD10).
1.2 Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
Đương sự là người có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi.”
3.4 Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11:
Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc Yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn T2 là một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Bà Nguyễn Thị T không phải chịu lệ phí.
Từ những căn cứ nhận định trên của Tòa án là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11.
Xét thấy, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 tuyên bố ông Nguyễn Văn T2 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định bà Nguyễn Thị T làm người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T2 là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.
Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1946 là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 27; Điều 35; Điều 39; Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T.
Tuyên bố ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1948; địa chỉ: Số X đường Đội Cung, Phường Xx, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Chỉ định bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1946 là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T2. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo quy định pháp luật.
2. Bà Nguyễn Thị T được miễn nộp lệ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 11; - Chi cục THADS Quận 11; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lý Trần Ngọc Phương |