- Tranh chấp gì? án hình sự — "T tàng trữ ma túy - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (điều 194 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau giám định;
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2018/HS-ST Ngày 14-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Sợi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận Lê Chân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Trịnh Quốc T, sinh ngày 15 tháng 4 năm 198X, tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: TY, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trịnh Xuân B và bà Lê Thị L; có vợ là Lê Thị N và có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 21-4-2018, tạm giam ngày 28-4-2018; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 20-4-2018, tổ công tác Công an phường Trại Cau phát hiện và bắt quả tang Trịnh Quốc T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy tại cửa nhà số 11 Hai Bà Trưng, Quận Lê Chân, Hải Phòng. Tiến hành kiểm tra, lực lượng công an đã thu giữ tại túi phía trong bên trái áo khoác T đang mặc 12 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy; thu giữ của T 01 xe mô tô BKS: 89L1-184.36, 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 89L1-184.36; 01 ví giả da bên trong có 220.000đ; 01 giấy phép lái xe và 01 chứng minh nhân dân mang tên Trịnh Quốc T.
Tại kết luận giám định số 194/KQGĐ ngày 24-4-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng trong 12 gói giấy thu giữ của Trịnh Quốc T là Heroine có khối lượng là 0,4159gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Quốc T khai nhâ ân: Khoảng 11 giờ ngày 20-4-2018, T một mình đi xe mô tô biển kiểm soát 89L1-184.36 đến khu vực đường tàu Mê Linh, Quận Lê Chân, Hải Phòng với mục đích mua ma túy để sử dụng. T đi dọc theo hành lang đường tàu Mê Linh về phía Cầu Đất được khoảng 50m thì dừng lại mua ma túy ở 01 căn nhà có cửa sắt đóng kín, trên cửa có 01 lỗ nhỏ. T đưa cho người trong nhà 600.000đ qua lỗ nhỏ trên cửa và nhận lại 12 gói ma túy. T cất số ma túy vừa mua được vào túi áo khoác phía trong bên trái, sau đó điều khiển xe đi về. Khi đi đến trước cửa nhà số 11 Hai Bà Trưng, Quận Lê Chân, Hải Phòng thì bị lực lượng công an kiểm tra, thu giữ cùng tang vật.
Quá trình điều tra, Trịnh Quốc T xác định ngôi nhà T mua ma túy ngày 20-4-2018 là nhà số 27/99 đường tàu Mê Linh, Trại Cau, Lê Chân, Hải Phòng. Cơ quan Công an Quận Lê Chân tiếp tục điều tra, có căn cứ xử lý sau.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 89L1-184.36, Cơ quan điều tra đã xác định được chủ sở hữu là anh Đặng Văn T1, sinh năm 198Z, trú tại: Xóm L, xã T, huyên T, Thanh Hóa. Anh T1 cho T mượn nhưng không biết việc T sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Lê Chân đã trả lại xe cho anh Đặng Văn T1.
Đối với 01 ví giả da màu đen đã cũ, 01 giấy phép lái xe và 01 chứng minh nhân dân mang tên Trịnh Quốc T, Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho gia đình Trịnh Quốc Toản quản lý.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai nhận như nội dung nêu trên.
Bản Cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 10-8-2018, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân đã truy tố Trịnh Quốc T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà luận tội bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử bị cáo Trịnh Quốc T mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về sử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy vật chứng đã thu giữ và trả lại bị cáo số tiền 220.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 20-4-2018, Trịnh Quốc T có hành vi cất giữ trái phép 0,4159 gam chất bột là loại Heroin vừa mua được để sử dụng cho bản thân thì bị bắt tại khu vực cửa nhà số 11 Hai Bà Trưng, Quận Lê Chân, Hải Phòng. Nên đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Trịnh Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện ma túy. Do vậy cần bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo, để bị cáo cai nghiện và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cũng xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung:
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 bị cáo có thể bị phạt một khoản tiền nhưng do bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10-8-2018 thì vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau giám định và số tiền 220.000đ. Xét phong bì đựng vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 220.000đ (giấy nộp tiền số 0004186 ngày 07-8-2018) là của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Trịnh Quốc T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 21 tháng 4 năm 2018.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau giám định;
Trả lại bị cáo số tiền 220.000đ (hai trăm hai mươi nghìn đồng) theo giấy nộp tiền số 0004186 ngày 07-8-2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10-8-2018.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Quận Lê Chân; - VKSND TP Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an Quận Lê Chân; - Cơ quan Thi hành án hình sự Quận Lê Chân; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân; - Trại tạm giam CATP Hải Phòng; - PV 27 Công an TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Sợi |