- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu “Tuyên bố một người đã chết”"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 27, Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39, Khoản 3 Điều 143;393 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 116/2021/QĐST-VDS. | Hoài Đức, ngày 22 tháng 10 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Thanh Hải.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Tiến Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 86/2021/TLST- VDS ngày 08/6/2021,về việc yêu cầu “Tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2021/QĐ-MPH ngày 13/10/2021.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Anh Đ, sinh năm 1990; Hộ khẩu thường trú: Thôn 4, xã L, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Thôn 4, xã L, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, sinh năm 1969;
Hộ khẩu thường trú cuối cùng tại: Thôn 4, xã L, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Anh Đ, sinh năm 1990, trú tại: Thôn 4, xã L, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có mẹ đẻ là bà D2, sinh năm 1969 có hộ khẩu thường trú tại: Thôn 4, xã L, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Bà D2 có bố mẹ đẻ là: Ông L, bà M. Ông L, bà M đã chết từ lâu. Ngoài ra, bà D2 không có bố mẹ nuôi nào khác. Bà D2 không có chồng và có 01 (một) người con là: Đ, sinh năm 1990, trú tại: Thôn 4, xã L, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Ngoài ra, bà D2 không có người con đẻ, con nuôi nào khác.
Bà D2 đã bỏ đi khỏi nơi cư trú từ năm 1991 cho tới nay không trở về nhà. Khi đi bà D2 không liên lạc về gia đình và cũng không trở về lần nào kể từ đó đến nay.
Gia đình anh Đ đã nhiều lần tìm kiếm thông tin của bà D2 bằng nhiều hình thức nhưng vẫn không có bất kỳ thông tin nào về việc bà D2 đi đâu, sinh sống và làm việc ở đâu, còn sống hay đã chết.
Sau khi Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã đăng thông tin tìm kiếm bà D2 lên báo Nhân dân 03 số liên tiếp: số 23970 ngày 11/6/2021, số 23971 ngày 12/6/2021, số 23972 ngày 13/6/2021; Đài tiếng nói Việt Nam phát VOV2, 17h30 ngày 19, 20, 21/06/2021 và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao thì cho đến nay bà D2 cũng không trở về; không có bất cứ thông tin gì về bà D2; không có người báo thông tin bà D2 còn sống hay đã chết, hiện sinh sống và làm việc ở đâu.
Nay anh Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố bà D2 là người đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự Đ thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức nhận định:
1. Tòa án đã thực hiện đăng thông tin tìm kiếm bà D2 trên báo Nhân dân 03 số liên tiếp: số 23970 ngày 11/6/2021, số 23971 ngày 12/6/2021, số 23972 ngày 13/6/2021; Đài tiếng nói Việt Nam phát VOV2, 17h30 ngày 19, 20, 21/06/2021 và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao ngày 10/6/2021 nhưng đến ngày mở phiên họp thì bà D2 vẫn không trở về và không có thông tin xác thực về việc bà D2 còn sống hay đã chết.
2. Ủy ban nhân dân xã Lại Yên cung cấp:
Bà D2, sinh năm 1969 có đăng ký hộ khẩu thường trú cuối cùng tại thôn 4, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội). Bà D2 có bố mẹ đẻ là: Ông L, bà M; Ông L, bà M đã chết từ lâu. Ngoài ra, bà D2 không có bố mẹ nuôi nào khác. Bà D2 không có chồng và có 01 (một) người con là anh Đ, sinh năm 1990, trú tại: Thôn 4, xã L, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Ngoài ra, bà D2 không có người con đẻ, con nuôi nào khác.
Bà D2 đã bỏ đi khỏi nơi cư trú từ năm 1991, cho tới nay không trở về nhà. Khi đi bà D2 không có thông báo với chính quyền địa phương về việc đi đâu, làm gì.
3. Từ những căn cứ trên có thể xác định bà D2 đã biệt tích liên tục 30 năm, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng đến hiện tại bà D2 không trở về và không có tin tức xác thực về việc bà D2 còn sống hay đã chết. Nay anh Đ yêu cầu Toà án tuyên bố bà D2 là người đã chết là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 71 Bộ luật dân sự và Điều 391 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Đ chấp nhận.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của anh Đ, tuyên bố bà D2 là người đã chết. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại các Điều 391, 392, 393 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 71 Bộ luật dân sự nên Đ chấp nhận.
5. Về lệ phí: Anh Đ phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 27, Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39, Khoản 3 Điều 143;393 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng: Điều 71 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng: Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đ.
2. Tuyên bố bà D2, sinh năm 1969 hộ khẩu thường trú trước khi biệt tích: Thôn 4, xã L, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là người đã chết. Thời điểm chết của bà D2 Đ xác định là ngày 01/01/1992.
Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người đã chết: Các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà D2 Đ giải quyết như đối với người đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự.
3. Lệ phí: Anh Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự Đ trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số AA/2020/0015148 ngày 08/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
4. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận quyết định, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Hoài Đức; - VKSND huyện Hoài Đức; - UBND xã L; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thanh Hải |