vanban.org

Quyết định 115/2019/QĐ-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/02/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/02/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Dương Minh K - Ủy ban nhân dân quận BT"
  • Tòa quyết gì? GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
___________________
Số: 115/2019/QĐ-PT
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 02 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Phùng Văn Hải

Các Thẩm phán:

Bà Đỗ Thị Hòa

Bà Lê Thị Mỹ Nhung

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên họp: Bà Võ Thị Bích Trâm – Thư ký

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Yến Oanh – Kiểm sát viên

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số: 2215/2018/QĐST-DS

ngày 02/11/2018, Tòa án nhân dân quận BT đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra, giữa:

Nguyên đơn: Ông Dương Minh K, sinh năm 1962;

Địa chỉ: 89 đường C, Phường T, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có ông Nguyễn Ngọc H, sinh

năm 1986

Địa chỉ: 27/2/18 đường M, khu phố TĐ, phường TT, Quận V, Thành

phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ủy ban nhân dân quận BT.

Trụ sở: Số 6 Đường PL, Phường Q, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn có ông: Phạm Đức AH và ông

Nguyễn QT.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Vũ Thị Thanh HI

Địa chỉ: A12 Đường PV, Phường Y, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bà Hải có ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm

1986.

Địa chỉ: 27/2/18 đường M, khu phố TĐ, phường TT, Quận V, Thành

phố Hồ Chí Minh. Tại đơn kháng cáo ngày 21/11/2018, ông Nguyễn Ngọc H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – Ông Dương Minh K kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 2215/2018/QĐST-DS do Tòa án nhân dân quận BT ban hành ngày 02/11/2018, với lý do: tại thời điểm nộp đơn khởi kiện nguyên đơn đã đáp ứng đầy đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước 2009 và Tòa án nhân dân quận BTcũng đã thụ lý. Ông yêu cầu hủy bỏ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 2215/2018/QĐST-DS ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân quận BT và tiếp tục giải quyết vụ án theo luật định. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Quá trình từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, Thẩm phán, Hội đồng phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ và đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 2215/2018/QĐST-DS ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân quận BT.

XÉT THẤY: Về hình thức: Ngày 02/11/2018, Tòa án nhân dân quận BT ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 2215/2018/QĐST-DS. Ngày 20/11/2018, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn được tống đạt hợp lệ quyết định, đến ngày 21/11/2018, ông Nguyễn Ngọc H là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn kháng cáo gửi Tòa án nhân dân quận BT ngày 22/11/2018 kháng cáo toàn bộ nội dung quyết định nêu trên. Căn cứ khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Giấy ủy quyền số công chứng 016188 ngày 07/10/2014 tại Văn phòng công chứng Gia định thì kháng cáo của ông H là còn trong hạn luật định và hợp lệ. Về nội dung: Ngày 18/9/2014, Ủy ban nhân dân quận BT ra Thông báo số 1182/TB-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 4134/2003 ngày 09/10/2003 với lý do trong phần diện tích đất được công nhận theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4134/2003 ngày 09/10/2003 bao gồm cả phần đất có cống thoát nước chung của khu vực. Ngày 05/11/2014, Ông Dương Minh K khiếu nại Thông báo số 1182/TB-UBND ngày 18/9/2014 của Ủy ban nhân dân quận BT, ngày 14/11/2011 ông K rút đơn khiếu nại, ngày 23/6/2015 Ủy ban nhân dân quận BT ra Thông báo số 571/TB-UBND thu hồi Thông báo số 1182/TB-UBND ngày 18/9/2014. Đồng thời ngày 22/6/2015, Ủy ban nhân dân quận BT đã gửi Công văn số 1005/UBND-TNMT đến Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh hủy bỏ ngăn chặn giao dịch đối với nhà đất số 354/1/50 Đường PV, Phường R, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 07/4/2015, Ông Dương Minh K khởi kiện yêu cầu Ủy ban nhân dân quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh bồi thường phần đất thu hồi của ông do đã cấp sai Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4134/2003 ngày 09/10/2003, yêu cầu Ủy ban nhân dân quận BTbồi thường do đã ban hành Công văn số 3217 ngày 09/8/2011 ngăn chặn giao dịch dân sự đối với nhà đất số 354/1/50 Đường PV, Phường R, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh gây thiệt hại cho ông.

Ngày 02/11/2018, Tòa án nhân dân quận BT ra Quyết định đình chỉ giải

quyết vụ án với lý do hồ sơ khởi kiện của nguyên đơn – Ông Dương Minh K không có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Do đó, vụ án thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Xét thấy, Theo quy định tại Điều 15, 16 Luật trách nhiệm bồi thường nhà

nước năm 2009 và Điều 1 Thông tư liên tịch số 18/2015/TTLT-BTP-BTC-TTCP ngày 14/12/2015 hướng dẫn trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính thì cá nhân, tổ chức khi cho rằng mình bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra thì có quyền yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xem, xét kết luận hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Sau khi được xem xét, giải quyết, trong trường hợp có văn bản kết luận hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thì người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường yêu cầu bồi thường. Do đó, theo quy định nêu trên thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường kể từ ngày có văn bản xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật. Tuy nhiên tại thời điểm khởi kiện thì hồ sơ khởi kiện của nguyên đơn không có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ theo quy định. Ngoài ra, theo Điều 17, 18, 19, 20, 22 Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2009 thì trong quá trình thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại cơ quan có trách nhiệm bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại, thương lượng việc bồi thường đối với người yêu cầu bồi thường. Sau đó cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải ra quyết định giải quyết bồi thường. Kể từ khi hết thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định hoặc người bị thiệt hại nhận được quyết định bồi thường nhưng không đồng ý thì có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường. Từ những quy định nêu trên cho thấy việc nguyên đơn cho rằng tại thời điểm khởi kiện ông đã làm theo hướng dẫn của Tòa án quận BT gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân quận BT giải quyết bồi thường thiệt hại nhưng đến hết thời hạn giải quyết mà vẫn chưa nhận được kết quả từ Ủy ban nhân dân quận BT nên ông mới khởi kiện ra Tòa án. Nguyên đơn căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước 2009 để để xác định tại thời điểm khởi kiện đã đáp ứng đầy đủ điều kiện khởi kiện là chưa đúng.

Do đó, việc Tòa án nhân dân quận BT đình chỉ giải quyết vụ án với lý do

chưa đủ điều kiện khởi kiện là có căn cứ.

Bởi các lẽ trên; Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

QUYẾT ĐỊNH: 1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn – Ông Dương Minh K có người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Ngọc H. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 2215/2018/QĐST-DS ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dương Minh K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0005785 ngày 27/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận BT. 3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM -TAND TC;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP -TAND cấp cao tại TP.HCM; -VKSND TP.HCM; -TAND quận BT; -Chi cục THADS quận BT; -Các đương sự; -Lưu (T.16)

Phùng Văn Hải

HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

Thẩm phán

Thẩm phán

Thẩm phán –

Chủ tọa phiên họp Lê Thị Mỹ Nhung

Đỗ Thị Hòa

Phùng Văn Hải

HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

Thẩm phán

Thẩm phán

Thẩm phán –

Chủ tọa phiên họp Lê Thị Mỹ Nhung

Đỗ Thị Hòa

Phùng Văn Hải

Cỡ chữ