vanban.org

Quyết định 115/2018/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum Tuyên án 11/05/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Ánh Ng và anh Nguyễn Quốc D. 2.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh Ng và anh Nguyễn Quốc D thuận tình ly hôn. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Bảo A, sinh ngày 13/02/2016 và Nguyễn Hoàng Gia Nh, sinh ngày 17/8/2009. Chị Nguyễn Thị Ánh Ng được quyền trực tiếp, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con là … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ ly hôn giữa Nguyễn Thị Ánh Ng với Nguyễn Quốc D"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Ánh Ng và anh Nguyễn Quốc D. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KON TUM
TỈNH KON TUM
Số: 115/2018/QĐST-HNGĐ
Kon Tum, ngày 11 tháng 5 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ việc dân sự thụ lý số 193/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2018 của người yêu cầu:

- Chị Nguyễn Thị Ánh Ng, sinh năm 1989;

- Anh Nguyễn Quốc D, sinh năm 1990; Cùng địa chỉ: Số 110 Huỳnh Thúc K, tổ 16, Phường Q, thành phố K, tỉnh K. Căn cứ vào Điều 397 và Điều 212 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các điều 55, 57, 58 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 03 tháng 5 năm 2018.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 03 tháng 5 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Ánh Ng và anh Nguyễn Quốc D. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh Ng và anh Nguyễn Quốc D thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Bảo A, sinh ngày 13/02/2016 và Nguyễn Hoàng Gia Nh, sinh ngày 17/8/2009. Chị Nguyễn Thị Ánh Ng được quyền trực tiếp, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con là Nguyễn Hoàng Bảo A và Nguyễn Hoàng Gia Nh. Anh Nguyễn Quốc D cấp dưỡng nuôi hai con hàng tháng số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng/02 con/01 tháng) và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Thời gian nuôi con và cấp dưỡng nuôi con kể từ tháng 5 năm 2018 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Căn cứ Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật và chị Nguyễn Thị Ánh Ng có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con mà anh Nguyễn Quốc D không thi hành khoản tiền cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về lệ phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 144, Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 35, Điều 36, Điều 37 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Ánh Ng tự nguyện chịu 300.000 đồng lệ phí yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0001329 ngày 13/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố K. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ