vanban.org

Quyết định 114/2021/QĐ-TA

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 15/11/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Đình N.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày ông Phạm Đình N bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "phạm đình N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Đình N.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 114/2021/QĐ-TABuôn Ma Thuột, ngày 15 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Trần Đại Minh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 15/11/2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tiến hành mở phiên họp để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hồ sơ thụ lý số 122/2021/XLHC ngày 09/11/2021, theo Quyết định mở phiên họp số: 121/2021/QĐ-TA ngày 11 tháng 11 năm 2021 đối với:

Họ và tên: Phạm Đình N; Sinh ngày 07 tháng 5 năm 1991; Tại tỉnh Đắk Lắk;

Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hóa: 10/12; Quê quán: Tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Không; Con ông Phạm Q và bà Phạm Thị L; Tiền án: 02; Tiền sự: Không;

Nơi cư trú: Thôn A, xã H , thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk: Bà Vũ Thị Nguyệt – Chức vụ: Chuyên viên phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ông Phạm Đình N hiện đang cư trú tại Thôn A, xã H , thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đã bị Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 71/QĐ-UBND ngày 04/5/2021 đối với ông Phạm Đình N, thời hạn giáo dục là 03 tháng, kể từ ngày 04/5/2021, do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Morphin/Heroin.

Ngày 16/8/2021 Công an phường K, TP. B phát hiện ông Phạm Đình N có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy và kết hợp với Công an xã H, TP. B đưa ông Phạm Đình N đến Bệnh viện đa khoa TP. B để xét nghiệm, xác định tình trạng nghiện. Kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy loại MOP (Morphin/Heroin). Quá trình làm việc ông Phạm Đình N khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2020 cho đến nay bằng hình thức tiêm vào cơ thể.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk – bà Vũ Thị Nguyệt trình bày: Căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ; hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thể hiện ông Phạm Đình N là người nghiện ma túy từ năm 2020 đến nay, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã H, TP. B do nghiện ma túy nhưng không tự cai nghiện được gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Đề nghị Tòa án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Đình N với thời hạn từ 14 đến 18 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến: Về thẩm quyền giải quyết vụ việc, tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng, về thu thập chứng cứ, thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng; trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại phiên họp và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đúng theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương Binh và xã hội thành phố Buôn Ma Thuột.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào các ý kiến trình bày tại phiên họp, xét thấy:

Ông Phạm Đình N là người trên 18 tuổi, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, buộc phải biết chất ma túy là chất gây nghiện, do Nhà nước độc quyền quản lý, cấm sử dụng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, gia tăng các tệ nạn xã hội và dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội. Ông Phạm Đình N bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2012 cho đến nay, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường do nghiện ma túy nhưng không tự cai nghiện được.

Ngày 16/8/2021 Công an phường K, TP. B phát hiện ông Phạm Đình N có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, kết hợp với Công an xã H, TP. B lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đưa ông Phạm Đình N đến Bệnh viện đa khoa TP. B để xét nghiệm. Kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy loại MOP (Morphin/Heroin). Do đó các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Đình N. Việc lập hồ sơ của các cơ quan có thẩm quyền đầy đủ, đúng quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Các Điều 3, 4, 8, 9, 11, 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

“1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

2. ……………”.

Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật, nhân thân, mức độ nhận thức về pháp luật của người bị đề nghị và ý kiến của những người tham gia phiên họp, xét thấy mặc dù biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng ông Phạm Đình N vẫn cố ý sử dụng. Xét hành vi của ông Phạm Đình N có tính liên tục, kéo dài, để tạo điều kiện cho ông Phạm Đình N chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề để trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và cộng đồng xã hội nên chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội TP. Buôn Ma Thuột, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Đình N.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Đình N.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày ông Phạm Đình N bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc niêm yết quyết định hợp lệ.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ