vanban.org

Quyết định 1134/2017/QĐ-PT — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/12/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/12/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị số 14/QĐKNPT-VKS-DS ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án nhân dân Cấp cao tại TPHCM; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Thanh L- Nguyễn Thị Ánh N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị số 14/QĐKNPT-VKS-DS ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1134/2017/QĐ- PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 12 năm 2017.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG NGHỊ ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Lê Phan Thị Minh Nguyệt.

Các Thẩm phán: 1/ Bà Trần Thị Nhung.

2/ Ông Nguyễn Khắc Vương.

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Hiển – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Cao Hoàng Thắng – Kiểm sát viên tham gia phiên họp.

Tại quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự sơ thẩm số 265/2017/QĐST-VDS ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào các Điều 48, Khoản 3 Điều 218, Khoản 2 Điều 273, Điều 361 và điểm c Khoản 1 Điều 364 và điểm c Khoản 2 Điều 366 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân sự” giữa:

Người yêu cầu: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1976.

Địa chỉ: B2/18 Ấp A, xã Long Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bị yêu cầu: Bà Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1971.

Địa chỉ: B2/18 Ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị S, sinh năm 1933.

Địa chỉ: B2/18 Ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại quyết định kháng nghị số 14/QĐKNPT-VKS-DS ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị quyết định số 265/2017/QĐST-VDS ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung:

Quyết định nêu trên đình chỉ việc giải quyết việc dân sự với lý do: Người yêu cầu rút yêu cầu theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quyết định đã tuyên: “Hoàn lại cho ông Nguyễn Thanh L số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng mà ông L đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2017/0030080 ngày 04/8/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh” là trái với quy định tại Khoản 5 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tại Khoản 5 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: „„Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 366, Điều 382, khoản 3 Điều 388, khoản 3 Điều 392 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tiền tạm ứng lệ phí Tòa án đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước‟‟. Do quyết định đình chỉ nêu trên có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước nên cần thiết phải kháng nghị phúc thẩm. Tại phiên họp, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, xác định: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng nghị số 14/QĐKNPT-VKS-DS ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Điều 314, Điều 361 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa một phần quyết định đình chỉ số 265/2017/QĐST-VDS ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng sung vào công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng.

XÉT THẤY:

Về hình thức: Ngày 25/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nhận được quyết định đình chỉ số 265/2017/QĐST-VDS ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 02/10/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định kháng nghị số 14/QĐKNPT-VKS-DS đối với quyết định đình chỉ nêu trên. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đã được làm trong thời hạn luật định, đúng với quy định tại Điều 361 và khoản 2 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về nội dung:

- Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng phúc thẩm nhận thấy: [[ Ngày 25/7/2017, ông Nguyễn Thanh L nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Ánh N là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ngày 22/9/2017, ông Nguyễn Thanh L có đơn rút yêu cầu giải quyết việc dân sự. Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ vào các Điều 48, Khoản 3 Điều 218, Khoản 2 Điều 273, Điều 361 và điểm c Khoản 1 Điều 364 và điểm c Khoản 2 Điều 366 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự là đúng với quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, tại phần 2 quyết định khi giải quyết về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết việc dân sự, cấp sơ thẩm tuyên:

“II. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

Hoàn lại cho ông Nguyễn Thanh L số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Bảy triệu năm trăm ngàn) đồng mà ông L đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2017/0030080 ngày 04 tháng 8 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh‟‟.

Phần này cấp sơ thẩm tuyên là không đúng với quy định pháp luật, bởi lẽ:

Tại khoản 5 Điều 18 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: „„Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 366, Điều 382, khoản 3 Điều 388, khoản 3 Điều 392 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tiền tạm ứng lệ phí Tòa án đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước‟‟. Đối chiếu trường hợp này, ông Nguyễn Thanh L rút đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 366 nên số tiền tạm ứng lệ phí Tòa án 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng ông Nguyễn Thanh L đã nộp phải được sung vào công quỹ nhà nước.

Mặt khác, ngày 26 tháng 9 năm 2017, Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự số 53/2017/QĐ-SCBSQĐ trước ngày Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định kháng nghị với nội dung sửa chữa như sau: “…Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng mà ông L đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2017/0030080 ngày 04/8/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh…”

Tại Khoản 1 Điều 268 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: „„…không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai.‟‟

Do đó, quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự số 53/2017/QĐ-SCBSQĐ ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh là không đúng quy định của pháp luật nên cần hủy bỏ quyết định trên.

Từ những phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy kháng nghị số 14/QĐKNPT-VKS-DS ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở để chấp nhận nên sửa một phần quyết định đình chỉ số 265/2017/QĐST-VDS ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh về phần án phí và hủy quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự số 53/2017/QĐ-SCBSQĐ ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Lệ phí phúc thẩm: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không phải chịu án phí theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Căn cứ vào điểm b khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng nghị số 14/QĐKNPT-VKS-DS ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa một phần quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết việc dân sự: Số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng ông Nguyễn Thanh L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí Tòa án số AA/2017/0030080 ngày 04/8/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh được sung vào công quỹ nhà nước. Hủy quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự số 53/2017/QĐ-SCBSQĐ ngày 26 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Những phần quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 2. Lệ phí phúc thẩm: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không phải chịu lệ phí. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ