- Tranh chấp gì? "bà Sa Thị N kiện UBND huyện H và CT UBND huyện H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Sa Thị N; Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 10/2023/QĐST- HC ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 3 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 113 /2024/QĐ-PT | TP. Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 02 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thu Thủy
Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: ông Nguyễn Trí Dũng – kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 10/2023/QĐST-HC ngày 30 tháng 8 năm 2023.
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã căn cứ vào: khoản 5 Điều 38; điểm g, h khoản 1 Điều 143, Điều 144, Điều 165 Luật Tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa:
Người khởi kiện: bà Sa Thị N, sinh năm 1968; cư trú tại: khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn K – Chủ tịch.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Thành N1 – Chủ tịch.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 11/9/2023, người khởi kiện bà Sa Thị N yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì: Ngày 22 tháng 01 năm 2021, Ủy ban nhân dân huyện H ban hành Quyết định số 335/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án chi hỗ trợ thu hồi đất và giải phóng mặt bằng thực hiện dự án đối với các hộ dân canh tác đất bãi bồi tại thị trấn T có nội dung mang tính chất nội bộ, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ nên chưa làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của bà Sa Thị N; căn cứ vào Khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì “Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, các nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, các nhân”. Do đó, Quyết định số 335/QĐ-UBND không phải là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính nên bà N không có quyền khởi kiện quyết đối với quyết định này.
Đối với Thông báo số 104/TB-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của bà N khiếu nại đối với Quyết định số 335/QĐ-UBND vì thời hiệu khiếu nại đã hết; căn cứ Khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đói tượng cụ thể” nên Thông báo số 104/TB-UBND là quyết định hành chính và thông báo này làm chấm dứt quyền khiếu nại của bà N nên là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bà N hết thời hiệu khởi kiện đối với Quyết định số 335/QĐ-UBND; còn Thông báo số 104/TB-UBND không phải đối tượng khởi kiện vụ án để đình chỉ giải quyết toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N là không đúng pháp luật quy định tại Khoản 1, 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính. Tuy nhiên, mục đích của bà N là khởi kiện và khiếu nại Quyết định số 335/QĐ-UBND nhưng quyết định này chưa làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà nên bà không có quyền khởi kiện, quyền khiếu nại đối với Quyết định số 335/QĐ-UBND; do đó, việc đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp không làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà N nên không cần thiết phải hủy quyết định để thụ lý giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về sau.
Từ các nhận định trên, Hội đồng không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Sa Thị N yêu cầu hủy quyết định đình chỉ vụ án; giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Điều 243 Luật tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Sa Thị N; Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 10/2023/QĐST- HC ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
2. Án phí hành chính phúc thẩm: bà Sa thị N2 phải nộp 300.000đ nhưng
được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 014234 quyển số 0285 ngày 11/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
| Trần Thị Thu Thủy Nguyễn Thị Thúy Hòa | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |