vanban.org

Quyết định 1126/2019/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà S đại diện cho nguyên đơn (bà E) yêu cầu hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm 308/2019/QĐST-DS ngày 06/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện C.

Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 308/2019/QĐST-DS ngày 06/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố H. Án phí phúc thẩm: Bà E không phải chịu án phí. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "N T E-Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại T L"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà S đại diện cho nguyên đơn (bà E) yêu cầu hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm 308/2019/QĐST-DS ngày 06/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện C.
  • Căn cứ chính? Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1126/2019/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 11 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Hoàng Thị Bích Duyên

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thọ Viên

Bà Võ Thị Mỹ Hạnh

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 308/2019/QĐST-DS ngày 06/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi. Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã căn cứ vào các Điều 179, 217, 218, 219, 227, 235, khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, giữa:

Nguyên đơn: Bà N T E, sinh năm 1957, Địa chỉ: Ấp X, xã X, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà N T N S sinh năm 1954; Địa chỉ: 34/3 Đỗ Công Tường, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

(Văn bản ủy quyền số Công chứng 000324, quyền số 01 TP/CC – SCC/HĐGD ngày 23/02/2012 tại Văn phòng Công chứng An Đông)

Bị đơn: Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại T L.

Địa chỉ trụ sở chính: 15 Nam Quốc Cang, phường P, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông N Q T- Chức vụ Giám đốc

- Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông N Đ Đ, sinh năm 1961; địa chỉ: 85/5 khu phố 2, phường C, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh, (Văn bản ủy quyền số 2112-2/2014/UQ, ngày 27/9/2019).

*. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông N V K.

Địa chỉ: 98/11 Thích Quảng Đức, Phường L, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ: ấp Xóm Mới, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông H M N, sinh năm 1965

Địa chỉ: 98/11 Thích Quảng Đức, Phường L, quận L, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo ủy quyền: Bà N T N S, sinh năm 1954; Địa chỉ: 34/3 Đỗ Công Tường, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Tại đơn kháng cáo quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của bà N T N S đại diện cho nguyên đơn là bà N T E. Ngày 13/9/2019, bà S trình bày lý do kháng cáo: Bà không nhận được giấy triệu tập cả hai lần mà Tòa án nhân dân huyện C niêm yết tống đạt cho bà, lý do vì bà về quê sinh hoạt và điều trị bệnh.

XÉT THẤY:

Tại phiên Tòa sơ thẩm ngày 06/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện C người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (bà N T E) là bà N T N S đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lấn thứ hai mà vẫn vắng mặt cụ thể như sau:

- Ngày 23/7/2019, Văn phòng Thừa phát lại huyện H M thực hiện thủ tục niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2019/QĐXXST-DS ngày 18/7/2019 và Giấy triệu tập số 266-1/GTT ngày 18/7/2019 (xét xử ngày 16/8/2019) tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CC, trụ sở Ủy ban nhân dân phường T Q, quận T P và tại địa chỉ nơi cư trú của bà S là số 34/3 Đỗ Công Tường, phường T Q, quận T P. Lý do niêm yết: Bà S không có mặt, nhà khóa cửa, đi đâu không rõ, không rõ thời gian trở về, không có người thân thích nhận thay văn bản tố tụng, do đó không thể hoàn thành việc tống đạt trực tiếp cho đương sự. Việc niêm yết công khai đã được Văn phòng Thừa phát lại huyện H M thực hiện đúng theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Ngày 20/8/2019, Văn phòng Thừa phát lại huyện H M thực hiện thủ tục niêm yết công khai Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2019/QĐST-DS ngày 16/8/2019 và Giấy triệu tập số 123-1/GTT ngày 16/8/2019 (xét xử ngày 06/9/2019) tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C C, trụ sở Ủy ban nhân dân phường T Q, quận T và tại địa chỉ nơi cư trú của bà S là số 34/3 Đỗ Công Tường, phường T, quận T. Lý do niêm yết: Bà S vắng mặt, đi đâu không rõ, không rõ thời điểm trở về, không có người thân thích đủ điều kiện nhận thay văn bản tố tụng, do đó không thể hoàn thành việc tống đạt trực tiếp cho đương sự. Việc niêm yết công khai đã được Văn phòng Thừa phát lại huyện H thực hiện đúng theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Ngày 23/8/2019, Tòa án nhân dân huyện C nhận được đơn xin thay đổi Thẩm phán của bà N T N S nộp trực tiếp tại Tòa án với lý do xin thay đổi Thẩm phán là thấy bất lợi cho bà, kèm theo đơn bà S cung cấp địa chỉ liên lạc mới của bà là số 147, đường số 572, ấp Đồn, xã T, huyện C, do vụ án đã được Thẩm phán ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử nên thẩm quyền giải quyết việc yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng sẽ do Hội đồng xét xử quyết định tại phiên tòa ngày 06/9/2019. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà S, Tòa án nhân dân huyện C đã gửi báo phát Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2019/QĐST-DS ngày 16/8/2019 và Giấy triệu tập số 123-1/GTT ngày 16/8/2019 cho bà S nhưng ngày 06/9/2019, bà S vẫn không có mặt tại phiên tòa. Do vậy Tòa án nhân dân huyện C đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trên là đúng theo quy định của pháp luật.

Xét, việc đại diện ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo không đồng ý với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện C là không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Tại phiên họp, Viện kiểm sát nhân dân M đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và đề nghị giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên là đúng, được chấp nhận.

Căn cứ khoản 1 Điều 148 và Điều 314 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà S đại diện cho nguyên đơn (bà E) yêu cầu hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm 308/2019/QĐST-DS ngày 06/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện C.

2. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 308/2019/QĐST-DS ngày 06/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố H.

3. Án phí phúc thẩm: Bà E không phải chịu án phí.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ