- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần N.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ----------- Số: 112/2025/QĐ-TA | Tân Bình, ngày 26 tháng 3 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Đặng Xuân Chính
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lan
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Số I P, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần Cơ cở cai nghiện ma túy số 1 Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: A đường Đ, ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức phiên họp theo hình thức trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 111/QĐ-TA ngày 19 tháng 3 năm 2025, đối với:
Họ và tên: Trần N
Sinh ngày 26 tháng 3 năm 1988
CMND/CCCD số: ......................, ngày cấp: ..................., nơi cấp:............
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: 03/12
Nguyên quán: Cần Thơ
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A (số mới: A) Trần Văn Đ), Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Nơi ở hiện tại: Không có nơi cư trú ổn định
Nghề nghiệp: Thợ sơn nước
Tiền án, Tiền sự: Không
Nhân thân: Từ năm 2003 đến năm 2007 bị đưa đi Trường G về hành vi gây rối trật tự công cộng và 02 lần đi cai nghiện ma túy bắt buộc vào các năm 2015 và 2019.
Con ông: Trần Ngọc S1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị L
Có mặt tại điểm cầu thành phần.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Tấn L1 – Phó trưởng Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Bảo Ngọc - Kiểm sát viên (có mặt).
NHẬN THẤY:
Ngày 13/01/2025, Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính đối với Trần N nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên mời về trụ sở Công an phường làm việc. Tại Phiếu xét nghiệm ngày 13/01/2025 của Trạm Y tế Phường 6, quận T; Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 13/01/2025 và Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 13/01/2025 do Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh lập, đã kết luận: Trần Ngọc dương T (+) chất ma túy MET.
Tại Bản tường trình ngày 13/01/2025, Trần N thừa nhận đã sử dụng ma túy đá.
Ngày 13/01/2025, Công an P, quận T đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 0034419/BB-VPHC đối với Trần N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 17/01/2025 của Cơ sở cai nghiện ma túy N3, xác định Trần N ma túy. Loại ma túy: Chất dạng Amphetamine.
Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, Ủy ban nhân dân Phường F, quận T đã lập thông báo về việc xác định tình trạng nghiện ma túy và yêu cầu đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng Trần N không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Vì vậy, Ủy ban nhân dân Phường F, quận T đã lập Biên bản vi phạm ngày 17 tháng 01 năm 2025 về việc N vi phạm không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.
Tại kết quả trả lời xác minh của Công an P1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh về thông tin cư trú của Trần Ngọc N2 sau: Trần N có hộ khẩu thường trú tại A (số mới: A) T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện không thực tế cư ngụ tại địa phương, nhà đã bán từ tháng 02/2022, hiện cư ngụ tại 687/60/9/2 L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, theo kết quả trả lời xác minh của Công an P2, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì Trần N không thực tế cư trú tại 6 L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, Phó Trưởng Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Quyết định về việc giao phụ trách đơn vị số 9455/QĐ-CATP ngày 29/11/2024 của Giám đốc Công an Thành phố H) có Văn bản số 01/ĐN-CNBB gửi kèm theo hồ sơ vụ việc chuyển đến Tòa án nhân dân quận Tân Bình đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Trần N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp, đại diện Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Trần Ngọc là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định và không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, đã được các cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Vì vậy, đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Trần N vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Nông, thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là từ 12 tháng đến 24 tháng.
Tại phiên họp người bị đề nghị trình bày: Trần N thừa nhận bản thân nghiện ma túy và không có nơi cư trú ổn định, N không tranh luận.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Quá trình thụ lý và tại phiên họp hôm nay, Thẩm phán và Thư ký đã chấp hành và thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần N với thời hạn chấp hành quyết định từ 18 tháng đến 24 tháng.
XÉT THẤY:
Về thẩm quyền: Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần N. Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thời hiệu: Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày Trần N thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Ngày 17/01/2025, Ủy ban nhân dân Phường F, quận T lập biên bản vi phạm đối với N về việc đã có hành vi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Như vậy, N thực hiện lần cuối hành vi vi phạm được xác định là ngày 17/01/2025 là còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 và khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Về trình tự, thủ tục, tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần N đã được cơ quan có thẩm quyền thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 103 và Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Bộ C1 – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính như Phiếu xét nghiệm, Biên bản xét nghiệm chất ma túy, Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, Biên bản vi phạm hành chính, Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy và sự thừa nhận của Trần N, đủ cơ sở kết luận N là đối tượng nghiện ma túy, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo kết quả xác minh về tình trạng nơi cư trú tại địa phương thể hiện N không có nơi cư trú ổn định. Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, Ủy ban nhân dân Phường F, quận T đã lập thông báo về việc xác định tình trạng nghiện ma túy và yêu cầu đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng N không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, đã vi phạm Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, nên Ủy ban nhân dân Phường F, quận T đã lập Biên bản vi phạm về việc N không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Như vậy, xét thấy N là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định, đã nhận được thông báo kết quả nghiện ma túy để đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, nhưng N không thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần N trong thời gian dài không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, hạn chế khả năng lao động, giảm sút về kinh tế gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, có tác động xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, ngoài ra còn là nguyên nhân gây nên nhiều căn bệnh trong đó có căn bệnh HIV-AIDS. N là đối tượng có nhân thân xấu, trước đây đã từng bị đưa vào Trường G về hành vi gây rối trật tự công cộng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên nhận thức rõ được tác hại của ma túy, nhưng vẫn không từ bỏ được ma túy mà vẫn tiếp tục sử dụng, hiện nay N là người không có nơi cư trú ổn định nên khả năng tự cai nghiện là không có. Do vậy, nhằm giúp Trần N có thời gian cai nghiện, được chữa bệnh, lao động và học nghề dưới sự quản lý của cơ sơ cai nghiện bắt buộc, đồng thời cũng để đảm bảo trật tự công cộng và an toàn xã hội, xét thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần N đề nghị của Trưởng Công an P, quận T và đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần N.
Cơ sở cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Nông.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình; - Công an Phường P, quận T; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Nông; - Cơ cở cai nghiện ma túy số 1 Thành phố Hồ Chí Minh; - Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đặng Xuân Chính |