- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của ông Văn Duy A đối với chị Văn Thị Thúy H1.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 112/2023/QĐST-DS Ngày: 23/11/2023 | Bắc Từ Liêm, ngày 23 tháng 11 năm 2023. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan - Thẩm phán;
Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Thu Vân
- Thư ký Tòa án;
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên họp: Bà Phong Thị Lan.
Trong ngày 23 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 95/2023/TLST-DS ngày 01/11/2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số: 14/2023/QĐPH -DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 của:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Văn Duy A, sinh năm 1965; CCCD số xxxxxxxxxxxx; Nơi thường trú: Tổ dân phố số 1, phường C, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
2. Người có quyền A nghĩa vụ liên quan:
2.1. Chị Văn Thị Thúy H1, sinh năm 1998; CCCD số xxxxxxxxxxxx;
2.2. Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1971; CCCD số xxxxxxxxxxxx;
Cùng nơi thường trú: Tổ dân phố số 1, phường C, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội;
Chị Hoa là con đẻ của ông Văn Duy A và bà Nguyễn Thị Thu H2.
NỘI DUNG:
Người yêu cầu, ông Văn Duy A trình bày: Chị Văn Thị Thúy H1 là con thứ hai trong hai người con đẻ của ông A, bà H2. Người con lớn của ông bà phát triển khỏe mạnh bình thường. Khi mang thai chị H1, bà H2 bị bệnh cúm. Từ khi sinh ra, chị H1 bị bại não, thường xuyên có các cơn co giật, không biết nói, không tự đi lại được, trí não chậm phát triển, không đi học, không tự phục vụ được, phải có người chăm sóc trong tất cả các hoạt động của bản thân như ăn uống, vệ sinh cá nhân. Chị H1 được UBND phường C cấp giấy chứng nhận người khuyết tật và được hưởng trợ cấp dành cho người bị khuyết tật nặng.
Ông A xác định chị H1 bị khuyết tật thể chất, tâm thần bẩm sinh nên không chạy chữa hay điều trị. Trước đây, khi chị H1 còn nhỏ, gia đình đã đưa chị H1 đi khám một lần nhưng thời gian đã lâu, không lưu giữ bệnh án nên không nhớ.
Để thuận tiện trong các giao dịch dân sự và bảo vệ quyền A cho chị H1, ông A yêu cầu Tòa án tuyên bố chị H1 mất năng lực hành vi dân sự và chỉ định bà H2, mẹ đẻ của chị H1 là người giám hộ của chị theo quy định của pháp luật.
Người có quyền A nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị Thu H2 trình bày: Bà H2 là mẹ đẻ của chị H1. Bà H2 nhất trí và thống nhất với lời khai và yêu cầu của ông A về việc yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi đối với chị H1 và việc chỉ định bà H2 làm người giám hộ cho chị H1.
Tại Kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 282/KLGĐ ngày 14/11/2023, Viện Pháp y Tâm thần Trung ương đã kết luận: “Tại thời điểm giám định, đối tượng Văn Thị Thúy H1 bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng. Theo phân loại quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F72. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Tại phiên họp:
- Ông A giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố chị Văn Thị Thúy H1 mất năng lực hành vi dân sự và chỉ định bà Nguyễn Thị Thu H2 là người giám hộ của chị H1 theo quy định của pháp luật
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm phát biểu ý kiến: Thẩm phán và các đương sự trong quá trình giải quyết việc dân sự đều thực hiện và chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Đề nghị Tòa án căn cứ các điều 22, 53, 57, 58, 59 của Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của ông Văn Duy A; Tuyên bố chị Văn Thị Thúy H1 mất năng lực hành vi dân sự; Giao chị H1 cho bà Nguyễn Thị Thu H2 giám hộ. Bà H2 có quyền và nghĩa vụ giám hộ chị H1 theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm nhận định:
Chị Văn Thị Thúy H1 là con thứ hai trong hai người con đẻ của ông A, bà H2, chưa kết hôn. Chị H1 phát triển thể chất và tâm thần chậm. Sức khỏe thể chất hiện tại của chị H1 yếu, luôn cần có người chăm lo từ việc ăn, ở, vệ sinh cá nhân. Sức khỏe tâm thần của chị H1: Không có khả năng nhận thức, nhận biết sự vật, hiện tượng xung quanh mặt ngây ngô, vô thức. Ngày 29/09/2015, chị H1 được UBND phường C cấp giấy xác nhận người khuyết tật, mức độ nặng đặc biệt và được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.
Viện Pháp y tâm thần Trung ương đã kết luận về tình trạng sức khỏe tâm thần của chị H1 theo đó, tại thời điểm giám định, Chị H1 bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng, theo phân loại quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F72. Chị H1 mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Việc Ông Văn Duy A là cha đẻ của chị H1 yêu cầu Tòa án tuyên bố chị H1 mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, cần chấp nhận. Ông A đề nghị Tòa án chỉ định bà H2, mẹ đẻ của chị H1 là người giám hộ cho chị H1 là có căn cứ.
Ông A phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 22, 53, 57, 58, 59 của Bộ luật Dân sự; Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 29/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án lệ phí Tòa án
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của ông Văn Duy A đối với chị Văn Thị Thúy H1.
2. Tuyên bố chị Văn Thị Thúy H1 mất năng lực hành vi dân sự.
3. Giao cho Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1971; Nơi thường trú: Tổ dân phố số 1, phường C, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội – là mẹ đẻ của chị Văn Thị Thúy H1 giám hộ chị H1. Bà H2 có quyền và nghĩa vụ giám hộ chị H1 theo quy định của pháp luật.
4. Ông Văn Duy A phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp tại biên lai số 0044235 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm. Ông A đã nộp đủ lệ phí.
5. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng; - Viện kiểm sát nhân dân Q.Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS Q.Bắc Từ Liêm; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Thanh Loan |