- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Võ Thị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Võ Thị T:
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 1116/2018/QĐDS-ST Ngày: 04-9-2018 V/v: Tuyên bố một người là đã chết. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn – Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Ông Vũ Quốc Thông – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 344/2018/TLST-DS ngày 16 tháng 3 năm 2018 về yêu cầu Tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số 288/2018/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Võ Thị T,
sinh năm 1950.
Địa chỉ: Số đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn H,
sinh năm 1964.
- Chị Nguyễn Thị L,
sinh năm 1966.
Cùng địa chỉ: Số đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chị Nguyễn Thị H,
sinh năm 1968.
Địa chỉ : Số đường N, Phường M, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Anh Nguyễn Văn T,
sinh năm 1969.
- Chị Nguyễn Thị T,
sinh năm 1971.
- Chị Nguyễn Thị P,
sinh năm 1974.
- Anh Nguyễn Văn Q,
sinh năm 1976.
Cùng địa chỉ: Số đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Q: Bà Võ Thị T, địa chỉ số đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền ( Giấy ủy quyền ngày 20/4/2018)
( Bà L, anh H, chị L, chị H, anh T, chị T, chị P đều có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.)
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa giải quyết:
Bà Võ Thị T yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn X ( Tên gọi khác TL), sinh năm 1936 (là chồng bà) có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ số đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, là đã chết.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
1. Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:
Bà Võ Thị T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố ông Nguyễn Văn X (Tên gọi khác TL), sinh năm 1936, nơi cư trú cuối cùng tại số đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, là đã chết. Do đó, căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu trên là yêu cầu tuyên bố một người là đã chết thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Võ Thị T, anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị T, chịNguyễn Thị P đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp giải quyết việc tuyên bố một người là đã chết vắng mặt bà L, anh H, chị L, chị H, anh T, chịT, chị P theo qui định tại Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ Giấy chứng nhận hộ khẩu thường trú số 326770 CN 020035119 do Công an Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/3/1982 cho chủ hộ Nguyễn Văn X, thì thể hiện ông Nguyễn Văn X ( Tên gọi khác TL) đã bị xóa khẩu vì vắng mặt không lý do ;
Căn cứ kết quả xác minh của Công an Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh như sau: Đương sự Nguyễn Văn X sinh năm 1936, có hộ khẩu thường trú tại số đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị xóa khẩu tháng 10/1994 với lý do vắng mặt. Cha mẹ của ông X là ông Phạm Văn Ch chết năm 1947, bà Nguyễn Thị H chết năm 1964. Ông X và bà L có tất cả 8 người con chung tên: anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn K chết năm 2014, chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn Q;
Qua lời trình bày của bà L, anh H, chịL, chị H, anh T, chịT, chịP, anh Q, xác định: Ông Nguyễn Văn X (Tên gọi khác TL), sinh năm 1936 đã bỏ nhà đi từ năm 1993 cho đến nay không có tin tức và gia đình đã nhiều lần nhắn tin, tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không có tin tức gì về ông X, thì lời trình bày của các đương sự là phù hợp với kết quả xác minh của Công an Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh và giấy chứng nhận hộ khẩu thường trú số 326770 CN 020035119 do Công an Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/3/1982 cho chủ hộ Nguyễn Văn X. Như vậy, có cơ sở để xác định ông Nguyễn Văn X đã biệt tích trên 5 năm liền và không có tin tức xác thực là còn sống, không còn liên lạc với gia đình hoặc người thân từ tháng 10/1994 cho đến nay. Do đó, bà L yêu cầu tuyên bố ông X (Tên gọi khác TL) là đã chết là có căn cứ nên chấp nhận.
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây: Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.”;
Theo quy định của khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “… nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.…”
Như vậy, do không xác định được ngày của tháng 10/1994 về tin tức cuối cùng của ông Nguyễn Văn X, nên ngày 01/11/1994 được xác định là ngày có tin tức cuối cùng của ông Nguyễn Văn X, do đó ngày chết của ông Nguyễn Văn X là ngày 02/11/1999.
3. Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội thì bà Võ Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị: Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Võ Thị T về việc tuyên bố ông Nguyễn Văn X là đã chết.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 150, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự ;
- Căn cứ khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo);
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Võ Thị T:
- Tuyên bố ông Nguyễn Văn X (Tên gọi khác TL), sinh năm 1936, nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ số đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, là đã chết.
Ngày chết của ông X được tính từ ngày 02/11/1999.
- Khi Quyết định này có hiệu lực pháp luật, các quan hệ về hôn nhân, gia đình, tài sản và các quan hệ nhân thân khác của ông X được giải quyết như đối với một người đã chết. Tài sản của ông X được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự:
Bà Võ Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0020408 ngày 15/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.
3. Về quyền kháng cáo:
Bà Bà Võ Thị T, anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn Q, chị Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND Quận 3; - Ủy ban nhân dân Phường 10, Quận 3; - Chi cục THADS Quận 3; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Thanh Nhàn |