vanban.org

Quyết định 1114/2023/QĐST-DS — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 429/2022/TLST-DS ngày 07/11/2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; giữa:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị U, sinh năm: 1947; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hà Thanh T; địa chỉ: D H, Phường F, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phan Thị U - Bùi Quốc C"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 429/2022/TLST-DS ngày 07/11/2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; giữa:
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1114/2023/QĐST-DSThành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào Điều 48, Điều 192, điểm h khoản 1 Điều 217, khoản 3 Điều 218

và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng

thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 429/2022/TLST-

DS ngày 07/11/2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Xét thấy:

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không thể thực hiện tống đạt Thông

báo thụ lý vụ án cho ông Bùi Quốc C theo các địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp.

Theo kết quả xác minh ngày 21/3/2023 Công an P, Quận C, Thành phố Hồ Chí

Minh có nội dung như sau: “Nhà 6 Đ, Phường A, Quận C hiện nay không có ông Bùi Quốc C cư trú tại địa chỉ trên. Tại công an P, Quận C không có lưu trữ thông tin ông Bùi Quốc C cư trú tại 6 Đ, Phường A, Quận C”.

Tại Bản tự khai ngày 10/5/2023 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn

đã cung cấp địa chỉ khác của ông Bùi Quốc C cư trú tại 5 L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, tại Phiếu trả lời kết quả xác minh ngày 05/6/2023 của Công an P1, quận P, có nội dung: “Tại địa chỉ: 5 L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh không có ai tên Bùi Quốc C có đăng ký thường trú cũng như thực tế cư trú tại địa chỉ 5 L, Phường A, quận P.

Tại Bản tự khai ngày 22/6/2023, bà Hà Thanh T (Người đại diện theo ủy

quyền của nguyên đơn) xác định ngoài các địa chỉ đã cung cấp cho Tòa án nêu trên, nguyên đơn không thể cung cấp thêm địa chỉ cư trú nào khác của ông Bùi Quốc C.

Như vậy, có cơ sở xác định nguyên đơn không cung cấp địa chỉ mới của bị

đơn và không có căn cứ xác định bị đơn đang cư trú tại địa chỉ số nhà F Đ, Phường A, Quận C được ghi tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và 5 L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Căn cứ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 và điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đình chỉ giải quyết vụ án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 429/2022/TLST-DS ngày 07/11/2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị U, sinh năm: 1947;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hà Thanh T; địa chỉ: D H, Phường F,

quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Bùi Quốc C; địa chỉ: K xác định được. 2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: 2.1. Quyền khởi kiện lại vụ án: Bà Phan Thị U được quyền khởi kiện lại vụ án khi có yêu cầu.

2.2. Án phí dân sự sơ thẩm: Không hoàn trả tạm ứng án phí, do bà Phan Thị

U được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo Thông báo số 1497/TB-TA ngày 02/11/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có

quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ