vanban.org

Quyết định 1110/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/10/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Trần Thị Châu G: Tuyên bố bà Bùi Thị Kim C, sinh năm 1944, địa chỉ: đường X, Phường Y, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự.

Về lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Trần Thị Châu G phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu số 0007900 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3. Bà G đã nộp đủ lệ phí. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Trần Thị Châu G: Tuyên bố bà Bùi Thị Kim C, sinh năm 1944, địa chỉ: đường X, Phường Y, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1110/2020/QĐST-DSQuận 3, ngày 27 tháng 11 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Thành.

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Ngọc Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên họp: Bà Lê Mộng Điệp - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 867/2020/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 305/2020/QĐST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Trần Thị Châu G, sinh năm 1972

Địa chỉ: đường X, Phường Y, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với:

Bà Bùi Thị Kim C, sinh năm 1944

Địa chỉ: đường X, Phường Y, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị CH, sinh năm 1974

Địa chỉ: đường X, Phường Y, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 05/8/2020 và bản tự khai, người yêu cầu bà Trần Thị Châu G trình bày:

Bà Bùi Thị Kim C là mẹ ruột của bà Trần Thị Châu G và Trần Thị CH. Nhiều năm nay, bà C bị bệnh suy giảm trí nhớ của người già, không thể nhận thức, làm chủ hành vi, không thể tự lo cho việc ăn uống và vệ sinh cá nhân… Bệnh tình của bà C ngày càng trầm trọng. Do các con không thể thay mặt bà C giải quyết các vấn đề liên quan nên bà G yêu cầu Tòa án tuyên bố bà C mất năng lực hành vi dân sự.

Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị CH trình bày: Bà H xác nhận mối quan hệ nhân thân và tình trạng bệnh của bà C như bà G đã trình bày. Bà thống nhất với yêu cầu tuyên bố bà C mất năng lực hành vi dân sự và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên họp, các đương sự đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị ghi nhận ý kiến tại bản tự khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên họp phát biểu:

Về tố tụng: các đương sự đã chấp hành quy định pháp luật, Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã tiến hành tố tụng đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của các đương sự có căn cứ xác định bà Bùi Thị Kim C mất năng lực hành vi dân sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Châu G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 3 nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Người yêu cầu bà Trần Thị Châu G yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Bùi Thị Kim C; bà C có hộ khẩu thường trú tại Quận 3 nên đây là yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3 được quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng:

Xét người yêu cầu bà Trần Thị Châu G, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị CH cùng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy tại phiên họp hôm nay, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bà G và bà H là phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Bà Trần Thị Châu G là con đẻ của bà Bùi Thị Kim C và yêu cầu Tòa án tuyên bố bà C mất năng lực hành vi dân sự: Sau khi thụ lý vụ án, ngày 21/10/2020 Toà án đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 347/2020/QĐ-TA trưng cầu Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh giám định khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bà Bùi Thị Kim C.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 2054/KLGĐ ngày 02/11/2020, Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận:

“1.1 Về y học:

Đương sự: Sa sút tâm thần do tuổi già (F03-ICD10).

1.2 Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Căn cứ khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp ý tâm thần”.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và điều luật đã viện dẫn, Tòa án xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Châu G tuyên bố bà Bùi Thị Kim C mất năng lực hành vi dân sự.

- Về lệ phí: Căn cứ khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bà Trần Thị Châu G phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 370, 371, 372, 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự.

- Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Trần Thị Châu G: Tuyên bố bà Bùi Thị Kim C, sinh năm 1944, địa chỉ: đường X, Phường Y, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự.

- Về lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Trần Thị Châu G phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu số 0007900 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3. Bà G đã nộp đủ lệ phí.

- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ