vanban.org

Quyết định 111/2022/QĐ-PT — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 01/03/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết phúc thẩm việc dân sự “yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” đối với yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Tuyết H.

Quyết định giải quyết việc dân sự sơ thẩm số: 711/2020/QĐDS-ST ngày 08 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này. Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng lệ phí phúc thẩm do bà Lê Thị Tuyết H đã nộp th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Lê Thị Tuyết V yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết phúc thẩm việc dân sự “yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” đối với yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Tuyết H.
  • Căn cứ chính? Điều 374 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 111/2022/QĐ-PT
QUYẾT ĐỊNH PHÚC THẨM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 3 năm 2022

YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI LÀ ĐÃ CHẾT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng phiên họp phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Đình Thanh

Các thẩm phán:

Bà Đinh Ngọc Thu Hương

Ông Võ Văn Khoa

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Vũ Hồng Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp phúc thẩm công khai giải quyết phúc thẩm việc dân sự thụ lý số: 535/2020/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2020 về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.

Do Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 711/2020/QĐDS-ST ngày 08 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự số: 20/2022/QĐPT-DS ngày 07 tháng 02 năm 2022;

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Lê Thị Tuyết V, sinh năm 1963; địa chỉ: Số 63 đường số 5, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị Ngọc A, sinh năm 1955; địa chỉ: Số 63/1 đường số 5, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

2. Bà Lê Thị Mỹ P, sinh năm 1957; địa chỉ: C13/19/16, Cư xá PLB, Phường 13, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

3. Bà Lê Thị N, sinh năm 1962; địa chỉ: Số 207, đường KDV, Phường 12, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

4. Bà Lê Thị Tuyết H, sinh năm 1965; địa chỉ: Số 65 đường số 5, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Tuyết H (theo Giấy ủy quyền ngày 21/8/2020): Ông Trương Hoàng Ng, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp TL, xã VT, huyện GQ, tỉnh Kiên Giang, (vắng mặt).

5. Ông Lê Thái S, sinh năm 1967; địa chỉ: Số 63 đường số 5, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

6. Ông Lê Văn M (Van M Le), sinh năm 1959; địa chỉ: 69 R.S. Sud – Granby – Quebec – Canada J2G7Z6, (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn M (theo Giấy ủy quyền ngày 27/02/2019): Bà Lê Thị Tuyết V, sinh năm 1963; địa chỉ: Số 63 đường số 5, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

- Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Tuyết H.

NHẬN THẤY:

Người yêu cầu là bà Lê Thị Tuyết V trình bày yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự như sau: Cha mẹ bà là ông Lê Văn B và bà Trần Thị Th có chung với nhau những người con gồm các ông, bà: Lê Thị Ngọc A, Lê Văn T, Lê Thị Mỹ P, Lê Thị Tuyết V, Lê Thị Tuyết H, Lê Thái S; ngoài ra còn có ông Lê Văn Ch và Lê Văn K nhưng cả hai ông đều bị bệnh chết từ nhỏ, không có khai sinh cũng không có khai tử. Ông Lê Văn T là anh ruột của bà. Trước đây, ông T có phạm tội và bị xì ke nên bị bắt đi cải tạo lao động. Đến năm 1982, ông T được giải tỏa cưỡng bức lao động theo Quyết định số 440/QĐ-UB ngày 01/10/1982 của Ủy ban nhân dân Quận 6 và về cư ngụ tại số 968A/2, đường HG, Phường 12, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng năm 1985, ông T bỏ nhà đi, không rõ đi đâu. Từ đó đến nay mặc dù gia đình đã tìm kiếm nhưng không ai nhận được tin tức gì về ông T. Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Văn T, sinh năm: 1956, cư trú tại số 968A/2, đường HG, Phường 12, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã chết nhằm hoàn thiện thủ tục giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản.

Quá trình giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N, bà Lê Thị Mỹ P và ông Lê Văn M (do bà Lê Thị Tuyết V là người đại diện theo ủy quyền) thống nhất lời trình bày như bà Lê Thị Tuyết V và yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Văn T đã chết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc A và bà Lê Thị Tuyết H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Thái S bị mất năng lực hành vi dân sự và chưa có văn bản cử người đại diện tham gia tố tụng.

Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 711/2020/QĐDS-ST ngày 08/6/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 372, 391, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị Tuyết V.

Tuyên bố ông Lê Văn T, sinh năm 1956; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: số 968A/2, đường HG, Phường 12, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, là đã chết. Ngày chết của ông Lê Văn T là ngày 01 tháng 01 năm 2016.

2. Các quan hệ về nhân thân, tài sản liên quan đến ông Lê Văn T được giải quyết như đối với một người đã chết.

3. Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Tuyết V phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng lệ phí bà Lê Thị Tuyết V đã nộp theo Biên lai thu số: AA/2017/0045642 ngày 12/11/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; bà Vân đã nộp đủ lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, quyết định sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/7/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Tuyết H có Đơn kháng cáo toàn bộ nội dung Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 711/2020/QĐDS-ST ngày 08/6/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên họp phúc thẩm, người kháng cáo bà Lê Thị Tuyết H và người đại diện theo ủy quyền của bà Hồng vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phúc thẩm phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp, Hội đồng phiên họp và các đương sự có mặt tại phiên họp đã thực hiện và chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tuy nhiên, người kháng cáo bà Lê Thị Tuyết H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên bị coi là từ bỏ kháng cáo, đề nghị Hội đồng phúc thẩm đình chỉ giải quyết phúc thẩm việc dân sự đối với yêu cầu kháng cáo của bà Hồng theo quy định tại khoản 2 Điều 374 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

XÉT THẤY:

Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Tuyết H nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tuy nhiên, tại phiên họp phúc thẩm, người kháng cáo bà Lê Thị Tuyết H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng bà Hồng và người đại diện theo ủy quyền của bà Hồng vẫn vắng mặt không có lý do nên thuộc trường hợp bị coi là từ bỏ kháng cáo và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết phúc thẩm việc dân sự đối với yêu cầu kháng cáo của bà Hồng theo quy định tại khoản 2 Điều 374 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do đó, Hội đồng phúc thẩm thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên họp đình chỉ giải quyết phúc thẩm việc dân sự “yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” đối với yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Tuyết H.

Số tiền tạm ứng lệ phí giải quyết phúc thẩm việc dân sự do bà Lê Thị Tuyết H đã nộp được sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 374 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Đình chỉ giải quyết phúc thẩm việc dân sự “yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” đối với yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Tuyết H.

2. Quyết định giải quyết việc dân sự sơ thẩm số: 711/2020/QĐDS-ST ngày 08 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này.

3. Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng lệ phí phúc thẩm do bà Lê Thị Tuyết H đã nộp theo Biên lai thu số: AA/2019/0092420 ngày 26/8/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Quyết định phúc thẩm đình chỉ giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định là ngày 01 tháng 3 năm 2022./.

Cỡ chữ