- Tranh chấp gì? án hành chính — "nguyễn Thị A"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện là bà Đỗ Thị D. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 32/2023/QĐST-HC ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh H.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 110/2023/QĐPT-HC | Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Vân Hương;
Các Thẩm phán:
Ông Hồ Sỹ Hưng;
Bà Lê Thị Thúy Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Minh Hải, Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 32/2023/QĐST-HC ngày 19 tháng 6 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hđã căn cứ vào khoản 5 Điều 38; điểm a khoản 3 Điều 116; điểm g khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 143 và Điều 144 Luật tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”, giữa:
1. Người khởi kiện: Bà Đỗ Thị D, sinh năm 1946; địa chỉ: Thôn 2, xã TC, T, tỉnh H.
Người đại diện theo ủy quyền của bà D: Anh Đỗ Công Th, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn 2, xã TC, T, tỉnh H.
2. Người bị kiện:
2.1. Chủ tịch UBND tỉnh H.
Địa chỉ: Đại lộ L, phường L, thành phố T, tỉnh H.
2.2. UBND T, tỉnh H.
Địa chỉ: Thị trấn V, T, tỉnh H.
2.3. Hội đồng bồi thường GPMB T, tỉnh H.
Địa chỉ: Thị trấn V, T, tỉnh H.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. UBND xã TC, T, tỉnh H.
3.2. Ông Đỗ Công C, sinh năm 1944;
3.3. Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1974;
3.4. Anh Đỗ Công Th, sinh năm 1988;
3.5. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989;
3.6. Chị Tống Khánh L, sinh năm 2002;
Cùng địa chỉ: Thôn 2, xã TC, T, tỉnh H.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Anh Đỗ Công Th, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn 2, xã TC, T, tỉnh H.
Tại đơn kháng cáo 26/6/2023, người khởi kiện cho rằng đã nhận được Quyết định số 1711/QĐ-UBND ngày 25/5/2021 giải quyết khiếu nại lần 2 nhưng do Điều 2 Quyết định này chỉ quy định nếu bà không đồng ý với nội dung Quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án và cũng không quy định gia đình bà không được tiếp tục khiếu nại với nội dung tương tự nữa hay không. Do vậy, người khởi kiện cho rằng ngày 02/8/2022 khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 1711/QĐ-UBND ngày 25/5/2021, là còn thời hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ việc giải quyết vụ án với lý do hết thời hiệu, là không đúng
XÉT THẤY:
Ngày 09/3/2021, UBND T ban hành Quyết định số 475/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần một, không chấp nhận 02 nội dung khiếu nại của bà Đỗ Thị D. Ngày 25/5/2021, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh H ban hành Quyết định số 1711/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần hai của bà Đỗ Thị D, chấp nhận 1 nội dung khiếu nại của bà Dự (bồi thường toàn bộ diện tích 831,9m2 là đất ở); không chấp nhận nội dung khiếu nại và đề nghị khác (bố trí 3 suất tái định cư chính diện tích 200m2/hộ), nếu bà D không đồng ý thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án; theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính là trong thời hạn 01 năm kể từ ngày nhận Quyết định số 1711/QĐ-UBND (bà D xác nhận đã nhận được vào ngày 25/5/2021.
Do vậy, ngày 02/8/2022 và ngày 20/12/2022 bà Đỗ Thị D mới có đơn yêu cầu: Hủy một phần Quyết định số 1711/QĐ-UBND ngày 25/5/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh H; hủy một phần Quyết định 2981/QĐ-UBND ngày 06/7/2020 của UBND T; xem xét Hành vi hành chính của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng T- là đã hết thời hiệu theo quy định nêu trên
Lý do của bà Đỗ Thị D nêu không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được quy định tại khoản 4 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính; và căn cứ khoản 5 Điều 38; điểm a khoản 3 Điều 116; điểm g khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 143 và Điều 144 Luật tố tụng hành chính, ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 32/2023/QĐST-HC ngày 19 tháng 6 năm 2023 là đúng.
Kháng cáo của bà Đỗ Thị D không có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Bà Đỗ Thị D là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí hành chính phúc thẩm cho bà D theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện là bà Đỗ Thị D. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 32/2023/QĐST-HC ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh H.
2. Về án phí: Bà Đỗ Thị D được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh H; - VKSND tỉnh H; - Cục THADS tỉnh H; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu HCTP, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký)ý) Phan Thị Vân Hương |