- Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Chu Văn Ngọc Long"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Chu V L.
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/QĐ-TA | Thái Hòa, ngày 16 tháng 6 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA, TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Thái Thị Hà.
2. Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huyền Thương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại phòng họp Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số: 19/QĐ-TA ngày 10 tháng 6 năm 2022, đối với:
Họ và tên: Chu V L - Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 04 tháng 6 năm 1999
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12.
Nguyên quán: Xã T, huyện Đ L, tỉnh Nghệ An.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khối C xx, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
Con ông Chu V T, sinh năm 1965 và con bà Trương T T, sinh năm 1966.
Tiền án, tiền sự: Không.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn A N - Chức vụ: Chuyên viên phòng lao động thương binh và xã hội UBND thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
(Theo văn bản ủy quyền số145/LĐTBXH ngày16/6/2022, của Trưởng phòng lao động thương binh và xã hội UBND thị xã T).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An tham gia phiên họp: Bà Nguyễn T N - Kiểm sát viên.
3. Đại diện cơ quan lập hồ sơ: Ông Phạm Q H- Chức vụ: Cán Phó Trưởng công an phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
4. Những người khác tham gia phiên họp:
Người chứng kiến:
Ông Chu V T, sinh năm 1965. Có mặt
Trú tại: Khối Cxx, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Tòa án nhân dân thì Chu V L là người nghiện chất ma túy từ năm 2020. Ngày 15/3/2022, L đã có hành vi sử dụng trái phép tại khu vực nghĩa trang phường Q, thị xã T, số ma túy mà L sử dụng là do L xin của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu H, thuộc phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An, do đó Công an phường Q đã lập biên bản vi phạm hành chính. Cùng ngày Công an phường Q đã phối hợp với Trạm y tế phường Q đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với L bằng hình thức dùng que test nước tiểu. Kết quả, Chu V L dương tính với ma túy tổng hợp.
Đến ngày 16/3/2022, Chủ tịch UBND phường Q đã quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn một năm kể từ ngày 16/3/2022 theo Quyết định số 41/QĐ-UBND. Trong quá trình thi hành quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thì Chu V L tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Ngày 19/5/2022, Chu V L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp tại vườn nhà thuộc khối chế biến lâm sản, phường Q, thị xã T. Số ma túy mà L sử dụng do L xin của một người đàn ông không quen biết tên tuổi, địa chỉ cho ở khu vực cầu H, thuộc phường Q, thị xã T. Do đó Công an phường Q đã lập biên bản vi phạm hành chính, đồng thời phối hợp với Trạm y tế phường Q tiến hành xét nghiệm chất ma túy bằng hình thức test nước tiểu cho kết quả dương tính với chất ma túy.
Theo phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 20/5/2022 thì Chu V L là nghiện ma túy, loại ma túy tổng hợp.
Do đó ngày 20/5/2022, Chủ tịch UBND phường Q ra quyết định số 114/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời Công an phường Q đã ban hành thông báo số 03/TB-CA ngày 20/5/2022 về việc thông báo kết quả tình trạng nghiện và hướng dẫn Chu V L đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại UBND phường Q, thị xã T. Cùng ngày Công an phường Q đã giao thông báo trên cho L. Tuy nhiên hết thời hạn đăng ký cai nghiện tự nguyện theo điều 28,Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 nhưng L không thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện nên ngày 28/5/2022, Công an phường Q lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Chu V L.
Ngày 30/5/2022 Chủ tịch UBND phường Q đã ra Thông báo số 305/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào “cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Chu V L, cùng ngày Công an xã phường Q đã giao thông báo trên cho Chu V L theo quy định.
Ngày 01 tháng 6 năm 2022, UBND phường Q đã có văn bản số 309/ĐN-CNBB gửi Phòng lao động thương binh và xã hội UBND thị xã T đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu V L.
Ngày 06 tháng 6 năm 2022, Phòng lao động thương binh và xã hội UBND thị xã T đã có văn bản số 123/LĐTBXH, đề nghị Toà án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Chu V L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc số II tỉnh Nghệ An.
Tại phiên họp đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội UBND thị xã T vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị. Đồng thời đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Chu V L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian từ 16 tháng đến 18 tháng.
Đại diện cơ quan lập hồ sơ nhất trí đề nghị đưa Chu V L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bởi Chu V L là người nghiện ma túy từ năm 2021, đã được UBND xã phường Quang Phong lập hồ sơ quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 12 tháng. Trong thời gian bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, Chu V L lại có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên UBND phường Q ra Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và hướng dẫn lập hồ sơ cho L cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Nhưng L không đăng ký việc cai nghiện tự nguyện theo quy định. Do đó đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa đưa Chu V L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 16 tháng đến 18 tháng.
Người làm chứng là ông Chu V T, cha đẻ của người bị đề nghị trình bày: Chu V L đã được gia đình giáo dục nhiều lần nhưng không từ bỏ được ma túy. Nay ông cũng đề nghị cơ quan có thẩm quyền đưa L đi cai nghiện bắt buộc với thời gian phù hợp để Lcai nghiện được ma túy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật: Hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu V L đã đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Việc thông báo thụ lý, ra quyết định mở phiên họp, tống đạt các văn bản tố tụng và tiến hành phiên họp của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân theo pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa chấp nhận đề nghị của Phòng lao động thương binh và xã hội UBND thị xã T, xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu V L.
Việc tuân theo pháp luật của người bị đề nghị: Người bị đề nghị chấp hành đúng các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ.
Thời gian đề nghị: Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu V L thời gian từ 18 tháng đến 20 tháng.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do UBND phường Q và Phòng lao động thương binh và xã hội UBND thị xã Thái Hòa đề nghị đối với Chu V L thấy rằng:
Về đối tượng áp dụng: Chu V L là người đã thành niên nghiện chất ma túy từ năm 2021 và hiện đang nghiện chất ma túy. Điều đó được thể hiện trong biên bản vi phạm hành chính, bản khai, biên bản lấy lời khai của Chu V L cũng như phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện chất ma túy của Trạm y tế phường Q, Bệnh viện đa khoa khu vực T và đã được Chủ tịch UBND phường Q quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên trong quá trình thi hành quyết định Chu V L tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên UBND phường Q ra Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và hướng dẫn lập hồ sơ cho L cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Điều 28 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021. Nhưng L không thực hiện việc đăng ký cai nghiện theo quy định. Vì vậy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Chu V L là đúng đối tượng, đúng hành vi vi phạm, phù hợp Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi bổ sung năm 2020); khoản 2 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Hồ sơ đầy đủ các tài liệu, chứng cứ về nhân thân, các tài liệu chứng minh về tình trạng nghiện chất ma túy, tài liệu chứng minh Chu V L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy nên Chủ tịch UBND phường Q đã ra Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và lập hồ sơ, hướng dẫn L đăng ký việc cai nghiện tự nguyện. Tuy nhiên đã hết thời hạn đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng L không thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện. Nên UBND phường Q lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Chu V L. Vì vậy về trình tự lập hồ sơ đã đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi bổ sung năm 2020); các Điều 40; 41; 42; 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi vi phạm của Chu V L thấy rằng: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Chu V L đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây tác hại cho sức khỏe của con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân gây ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. L đã được UBND phường Q hướng dẫn đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng L không chấp hành. Vì vậy, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Chu V L là cần thiết để chữa bệnh, lao động, học văn hoá, học nghề giúp L trở thành công dân có ích cho xã hội.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy rằng: Chu V L có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, tại phiên họp hôm nay L vắng mặt không có lý do nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính..
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105- Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi bổ sung năm 2020).
Căn cứ vào Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021.
Căn cứ các Điều 40; 41; 42; 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Căn cứ các Điều 3; 19; 22; 23 và Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Chu V L.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi tháng) tháng, kể từ ngày Chu V L bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Chu V L có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết. Phòng lao động thương binh và xã hội UBND thị xã T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thị xã Thái Hòa chủ trì, phối hợp với Phòng lao động thương binh và xã hội UBND thị xã Thái Hòa đưa Chu V L là người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là:
Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc số II tỉnh Nghệ An.
Địa chỉ: Xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Thái Hòa; - Công an thị xã Thái Hòa; - UBND phường Q; - Phòng LĐTB&XH UBND thị xã Thái Hòa; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Thái Thị Hà |