vanban.org

Quyết định 11/QĐ-TA

TAND TX. Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 20/07/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trà P. Sinh ngày 20/11/1990 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S, địa chỉ: số U đường H, khóm I, phường O, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày 09/7/2020. Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi Cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan được biết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ cai nghiện Trà Hoàng Phúc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trà P. Sinh ngày 20/11/1990 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S, địa chỉ: số U đường H, khóm I, phường O, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/QĐ-TANgã Năm, ngày 20 tháng 7 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đặng Thị Vàng.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Tân.

Ngày 20 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 11/QĐ-TA ngày 13 tháng 7 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Trà P. Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 20/11/1990; Giới tính: Nam.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 07/12.

Quê quán: phường E, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

Hộ khẩu thường trú: ấp M, xã B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng

Chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: không.

Tiền án: không xác định; tiền sự: không có.

Con ông Trà M và bà Bành A.

(Trà P có mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Võ H – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm: Ông Trương Minh Diền - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vào ngày 22/6/2020 Công an nhân dân xã B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng đã phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính đối với anh Trà P về việc sử dụng trái phép các chất ma túy. Tại bản tường trình, tờ cam kết và biên bản ghi lời khai đối với anh Trà P đã thừa nhận có sử dụng ma túy đá (Methamphetamin). Theo kết quả xét nghiệm của Trung tâm y tế thị xã N xác định anh Trà P có nghiện ma túy và loại ma túy sử dụng là Methamphetamin. Theo biên bản ghi lời khai của anh P cũng như lời trình bày của mẹ ruột anh P, chú ruột anh P thì anh P có hộ khẩu thường trú tại ấp M, xã N, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng nhưng không thường xuyên cư trú tại đây, thường đi làm thuê nhiều nơi, lâu lâu mới về nhà một lần, chỗ ở không ổn định nên Ủy ban nhân dân và Công an nhân dân xã B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trà P.

Theo công văn 306/PLĐTBXH ngày 07/7/2020 của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã N và tại phiên họp người đại diện hợp pháp của cơ quan đề nghị: Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trà P, thời hạn chấp hành là 18 (Mười tám) tháng, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S, địa chỉ số U đường H, khóm I, phường O, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Ý kiến của người bị đề nghị: Tại tòa anh Trà P không nhớ có sử dụng ma túy đá năm 2015. Lần sử dụng ma túy đá lần thứ hai vào ngày 14/6/2020 và khi về nhà của anh thì anh không điều khiển được hành vi của mình, đập phá đồ đạt trong nhà, không nhận biết được người thân, rồi anh bị công an xã B mời về làm việc, lập biên bản vi phạm hành chính là ngày 22/6/2020. Anh đồng ý đi cai nghiện theo đề nghị của Phòng Lao động – thương binh và xã hội thị xã N.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng phát biểu: Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật trong việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; Cơ quan đề nghị và người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã chấp hành đúng quy định pháp luật; đồng thời đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã N.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên họp, cũng như ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, xét thấy:

Anh Trà P đã có hành vi vi phạm về sử dụng trái phép chất ma túy bị nghiêm cấm theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Luật phòng chống ma túy năm 2000 (được sửa đổi, bổ sung năm 2008), đã bị Công an nhân dân xã B, thị xã N lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 22/6/2020. Anh P đã thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại bản tường trình, tờ cam kết, tờ thừa nhận hành vi vi phạm và các biên bản ghi lời khai của Công an nhân dân xã B, thị xã N. Theo kết quả xét nghiệm của Trung tâm y tế thị xã N vào ngày 22/6/2020 xác định anh P có nghiện ma túy và loại ma túy sử dụng là chất Methamphetamin. Vì vậy, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã N đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trà P là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trà P đúng theo quy định tại các Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ).

Đánh giá về tính chất, mức độ và hậu quả hành vi vi phạm của anh Trà P: Anh P nhận thức được hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đã bị pháp luật nghiêm cấm và ma túy là tệ nạn xã hội gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho đời sống cộng đồng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội. Đồng thời, ma túy đá là chất độc hại làm hủy hoại thể xác và tinh thần đối với người sử dụng. Ngày 14/6/2020 anh P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đá nên ngày 01/7/2020 Ủy ban nhân dân xã B, thị xã N ban hành Quyết định số 90/QĐ-UBND giao cho cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S, quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P do anh P không có nơi cư trú ổn định. Ngoài ra, ngày 22/6/2020 anh P đã bị Công an xã B, thị xã N lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, trong quá trình lấy lời khai lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính, anh P đã tự nguyện khai báo về hành vi vi phạm của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Căn cứ vào tính chất và mức độ hành vi vi phạm của anh P, Tòa án quyết định thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tương xứng để anh Trà P chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện, theo quy định tại Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã N về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trà P là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án chấp nhận đề nghị như đã phân tích nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trà P. Sinh ngày 20/11/1990 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S, địa chỉ: số U đường H, khóm I, phường O, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày 09/7/2020.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi Cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan được biết.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định. Trong trường hợp người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn nêu trên được tính kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc ngày niêm yết hợp lệ Quyết định.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành Quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã N phối hợp với Công an nhân dân thị xã Ngã Năm đưa anh Trà P vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ