vanban.org

Quyết định 11/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Quốc T1 tại Cơ sở cai nghiện ma tuý thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "TRẦN QUỐC T1"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Quốc T1 tại Cơ sở cai nghiện ma tuý thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  • Căn cứ chính? Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/QĐ–TATân Biên, ngày 05 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.

2. Thư ký phiên họp: bà Đoàn Thị Trúc Linh.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 09/QĐ– TA ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Trần Quốc T1, giới tính: nam; sinh ngày 11 tháng 01 năm 2001; CCCD số: 072201000986; ngày cấp: 09-9-2022; nơi cấp: Cục C – Bộ C1; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 10/12; nguyên quán: tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; tiền án: không có; tiền sự: Quyết định số: 21/ QĐ–XPHC ngày 25-4-2024 của Trưởng Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính đối với T1 số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã nộp phạt ngày 25-4-2024.

Con ông Trần Văn T2 và bà Phan Thị T3.

Anh Trần Quốc T1 vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Nguyễn Chí Sang – Chức vụ: Phó Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T (Quyết định về việc giao quyền tham dự các cuộc họp và ký văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 2007/QĐ–LĐTBXH ngày 29-12-2023); có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: ông Nguyễn Phan Hoàng Nam – Kiểm sát viên; có mặt.

NHẬN THẤY:

Anh Trần Quốc T1 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số: 21/QĐ–XPHC ngày 25-4-2024 của Trưởng Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, đã chấp hành nộp phạt ngày 25-4-2024. Tuy nhiên, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, ngày 02-5-2024 anh T1 tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 03-5-2024, Trưởng Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với anh T1, kết quả anh T1 dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 08-5-2024 của Trung tâm Y tế huyện T, tỉnh Tây Ninh kết luận anh T1 có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Cần sa. Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện của anh T1, ngày 09-5-2024 Công an thị trấn T, huyện T ban hành Thông báo số: 09/TB-CATT về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và tống đạt cho anh T1 biết để thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, nhưng hết thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo, anh T1 vẫn không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện với lý do anh T1 nghiện nặng, gia đình không đủ khả năng về tài chính để chi phí cho việc quản lý anh T1.

Căn cứ Luật Phòng, chống ma túy; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T1.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Tây Ninh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T1 tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T, thời gian cai nghiện bắt buộc từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng.

- Anh T1 đã được tống đạt quyết định mở phiên họp đúng quy định của pháp luật, đảm bảo thời hạn tống đạt nhưng vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt anh T1.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, không vi phạm về tố tụng.

Về việc xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: xét thấy hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Tây Ninh đã đầy đủ và có căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T1. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xem xét, quyết định đưa anh T1 đi cai nghiện bắt buộc thời gian từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

- Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 103, 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 13 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số: 116/2021/NĐ– CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ.

- Về thời hiệu áp dụng: anh T1 trình bày lần cuối cùng thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 02-5-2024. Ngày 03-5-2024, Công an thị trấn T, huyện T phát hiện lập biên bản vi phạm đối với anh T1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) xác định hành vi của anh T1 còn thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: anh T1 là người thành niên, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, anh T1 lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 08-5-2024 của Trung tâm Y tế huyện T, tỉnh Tây Ninh kết luận anh T1 có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Cần sa. Ngày 09-5-2024 Công an xã thị trấn T, huyện T ban hành Thông báo số 09/TB-CATT về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và tống đạt cho anh T1 biết để thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, nhằm mục đích điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị các rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác và giáo dục, tư vấn, phục hồi hành vi, nhân cách. Tuy nhiên hết thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo, anh T1 không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.

Anh T1 có đủ khả năng nhận thức tác hại của ma túy và hệ lụy của việc sử dụng ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm, điều này thể hiện ý thức chấp hành quy định pháp luật của anh chưa nghiêm. Hành vi của anh T1 là nguy hiểm cho xã hội, không những làm suy thoái về sức khỏe và đạo đức của bản thân mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, sự quản lý các chất ma túy của Nhà nước.

Tình tiết tăng nặng: anh T1 có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đây là tình tiết tăng nặng “Tái phạm” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Tình tiết giảm nhẹ: quá trình lập hồ sơ đề nghị, anh T1 đã tự nguyện khai báo về hành vi vi phạm hành chính của mình và thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ các Điều 6, 9, 10, 96, 103, 104 và 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Điều 13 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; các Điều 28, 40, 41, 42, 43 Nghị định số: 116/2021/NĐ–CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ: xét thấy, cần phải cách ly anh T1 ra khỏi môi trường xã hội trong một thời gian để quản lý, giáo dục và tạo dựng môi trường mới giúp anh sửa chữa những sai phạm của mình và có điều kiện chữa bệnh, học tập lành mạnh.

Đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tại phiên họp về việc áp dụng biện phạp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T1 là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Quốc T1 tại Cơ sở cai nghiện ma tuý thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, Công an huyện T có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ