- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ H - ĐỖ HỮU T"
- Tòa quyết gì? Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2026/HNGĐ - ST Ngày 27/02/2026 (V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - N
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Thiện Thành
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiếu và bà Nguyễn Thị Phương Thiệu
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Hồng Mơ – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - N tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Phượng – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - N tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2025/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2026 và quyết định hoãn phiên tòa số 04/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05/02/2026 giữa các đương sự:
Nguyªn ®¬n: Chị Nguyễn Thị H, sinh n¨m 1980; Số định danh cá nhân/CMND: xxxxxxxxx; địa chỉ: Đường 477, xã G, tỉnh N (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
BÞ ®¬n: Anh Đỗ Hữu T, sinh n¨m 1974; Số định danh cá nhân/CMND: xxxxxxxx; địa chỉ: Đường 477, xã G, tỉnh N (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 30 tháng 9 năm 2025, và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày: Giữa chị Nguyễn Thị H và bị đơn là anh Đỗ Hữu T, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 23 tháng 12 năm 2000, tại Uỷ ban nhân dân xã Gia P, huyện V, tỉnh N (Nay là xã G, tỉnh N). Sau khi kết hôn hai người chung sống cùng nhau tại xã G, tỉnh N. Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Hữu T chung sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do tính tình không hợp, kinh tế gia đình khó khăn, anh T không tu trí làm ăn phát triển kinh tế, không quan tâm đến vợ con, nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi, đánh nhau, không quan hệ với nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên nội, ngoại khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho tới nay. Chị Hiền thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị H đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Hữu T.
Về con chung chị Nguyễn Thị H trình bày: Vợ chồng chị có hai con chung cháu lớn là Đỗ Huyền T, sinh ngày 18/7/2003; cháu nhỏ là Đỗ Khánh T, sinh ngày 06/9/2006. Hiện nay các cháu đã trên 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được cuộc sống, nên chị Hiền không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về quan hệ tài sản và công nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về phía bị đơn là anh Đỗ Hữu T đã được Tòa án giao thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng cố tình vắng mặt không có lý do.
T¹i phiªn toµ vÞ ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n khu vực 3 - Ninh Bình, ph¸t biÓu ý kiÕn vÒ viÖc tu©n theo ph¸p luËt Tè tông d©n sù trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n cña ThÈm ph¸n, Héi ®ång xÐt xö, Thư ký phiên tòa; viÖc chÊp hµnh ph¸p luËt cña ng êi tham gia tè tông d©n sù, kÓ tõ khi thô lý vô ¸n cho ®Õn tr íc thêi ®iÓm Héi ®ång xÐt xö nghÞ ¸n đều tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 §iÒu 147; khoản 1, ®iÓm b kho¶n 2 §iÒu 227; khoản 1, kho¶n 3 §iÒu 228 Bé luËt Tè tông D©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đỗ Hữu T;
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà; Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 3 - N giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Hữu T; anh Đỗ Hữu T có nơi cư trú tại xã G, tỉnh N, đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - N theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đỗ Hữu T đã được Toà án nhân dân khu vực 3 - N triệu tập hợp lệ đến phiên Toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Hữu T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh N (Nay là xã G, tỉnh N) vào ngày 23 tháng 12 năm 2000. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ, sau khi kết hôn hai người chung sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hợp, kinh tế gia đình khó khăn, anh T không tu trí làm ăn phát triển kinh tế, không quan tâm đến vợ con, nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi, đánh nhau, không quan hệ với nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình nội, ngoại khuyên bảo nhưng mâu thuẫn vẫn không được hàn gắn. Theo thời gian, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, nặng nề, thực tế vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2020 đến nay, cũng từ đó hai người không quan tâm đến nhau, quan hệ vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Điều này phù hợp với biên bản thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân giữa chị Hiền và anh Tĩnh do UBND xã G cung cấp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân khu vực 3 - N đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh Đỗ Hữu T cố tình vắng mặt không có lý do. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, không còn thiện chí để tìm cách đoàn tụ vợ chồng, chứng tỏ quan hệ vợ chồng giữa chị Hiền và anh Tĩnh đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Hữu T có hai con chung cháu lớn là Đỗ Huyền T, sinh ngày 18/7/2003; cháu nhỏ là Đỗ Khánh T, sinh ngày 06/9/2006. Hiện nay các cháu đã trên 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được cuộc sống nên chị H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản chung, công nợ chung. Vì vậy, vấn đề tài sản chung và công nợ chung, Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 §iÒu 147 Bé luËt Tè tông D©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 §iÒu 147; khoản 1, ®iÓm b kho¶n 2 §iÒu 227; khoản 1, kho¶n 3 §iÒu 228 Bé luËt Tè tông D©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Hữu T được ly hôn;
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Được khấu trừ 300.000 đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh N theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Ký hiệu: BLTU/25E, số 0001158 ngày 02/10/2025.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh N; - VKSND khu vực 3 – N; - THADS tỉnh N; - Các đương sự; - UBND xã G, tỉnh N; - Lưu Hồ sơ, văn phòng; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thiện Thành |