vanban.org

Quyết định 11/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 05/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

367; 369; 370; 371; 372; 376 và 378 BLTTDS năm 2015; Điều 22; Điều 53; 54, 57, 58 và 59 BLDS 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Võ Văn T. Tuyên bố anh Võ Đức M, sinh năm 1979, có HKTT: Tổ 02, phường GS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, hiện đang điều trị tại Trung tâm điều dưỡng và phục hồi chức năng tâm thần kinh Thái Nguyên là người mất năng lực hành vi dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Quyết định Tuyên bố anh Võ Đức M mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? 367; 369; 370; 371; 372; 376 và 378 BLTTDS năm 2015; Điều 22; Điều 53; 54, 57, 58 và 59 BLDS 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11 /2023/QĐST-VDSThái Nguyên, ngày 05 tháng 9 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân

Thư ký phiên họp: Bà Phan Thị Ngọc Huyền

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

tham gia phiên họp: Ông Đinh Văn M - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên mở

phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 13/TLST-VDS ngày 07/7/2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số 10/2023/QĐST-VDS ngày 22/8/2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu: Ông Võ Văn T, sinh năm 1957. Có mặt

Nơi cư trú: Tổ 02, phường GS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Đức M, sinh năm 1979.

Vắng mặt

HKTT: Tổ 02, phường GS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

Hiện đang điều trị tại Trung tâm điều dưỡng và phục hồi chức năng tâm

thần kinh Thái Nguyên

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và lời khai tại phiên họp, người yêu cầu ông Võ Văn T

trình bày:

Anh Võ Đức M, sinh năm 1979 là con chung của ông Thể và bà Nguyễn

Thị Đ(mất năm 2005). Từ nhỏ đến lớn M phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, anh M theo học tại trường Trung học Cảnh sát. Đến năm 2000, M về công tác tại Công an huyện Đồng Hỷ và năm 2003 thì ra quân. M chưa có vợ, con. Từ năm 2003, M có những biểu hiện không bình thường về tâm thần như nói nhiều luyên thuyên, mất ngủ, bỏ bê công việc, sau bỏ nhà đi lang thang. Khi bệnh nặng M còn từng cầm dao đâm ông phải đi cấp cứu tại bệnh viện. Gia đình đã đưa đi điều trị ở nhiều nơi như: Bệnh viện tâm thần Thái Nguyên vào năm 2004, điều trị tại Bệnh viện tâm thần trung ương 01 vào năm 2005, tuy nhiên M vẫn không khỏi bệnh. Sau đó, đến năm 2006 ông đã làm hồ sơ xin đưa anh M vào Trung tâm điều dưỡng và phục hồi chức năng tâm thần kinh Thái Nguyên để điều trị. Theo Quyết định số 238/QĐ-SLĐTBXH ngày 08/5/2006 của Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh Thái Nguyên, anh M đã được đưa vào điều trị tại Trung tâm điều dưỡng và phục hồi chức năng tâm thần kinh Thái Nguyên từ ngày 01/6/2006 đến nay.

Nay ông làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố con trai là anh Võ Đức M mất

năng lực hành vi dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: kể từ từ khi thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự cũng như tại phiên họp, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của BLTTDS trong việc giải quyết đơn yêu cầu. Người yêu cầu và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định pháp luật về tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Võ Văn T, tuyên bố anh Võ Đức M mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được

thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện của Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi

dân sự được quy định tại khoản 1 Điều 27 BLTTDS. Người yêu cầu và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có hộ khẩu thường trú tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 BLTTDS, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Về nội dung: Xét đơn yêu cầu của ông Võ Văn T dề nghị Tòa án tuyên

bố anh Võ Đức M mất năng lực hành vi dân sự, thấy:

Anh Võ Đức M là con trai của ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị Đ(bà Đào

mất năm 2005). Anh M không có vợ, con. Anh M từ khi sinh ra thì phát triển bình thường về thể chất và tâm thần. Từ năm 2003, M có những biểu hiện không bình thường về tâm thần đã được gia đình đưa đi chữa trị ở nhiều nơi. Từ ngày 01/6/2006 đến nay, anh M được đưa vào điều trị, chăm sóc tại Trung tâm Điều dưỡng và phục hồi chức năng Tâm thần kinh Thái Nguyên theo Quyết định số 238/QĐ-SLĐTBXH ngày 08/5/2006 của Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh Thái Nguyên.

Theo yêu cầu của ông Võ Văn T, Tòa án đã ra quyết định Trưng cầu giám

định số 04/2023/QĐ-TCGĐ ngày 18/7/2023 về việc trưng cầu Viện Pháp y tâm thần Trung ương giám định đối với tình trạng sức khỏe, tâm thần của anh Võ Đức M.

Tại kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 203/KLGĐ ngày 18/8/2023

của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: Tại thời điểm giám định đối tượng Võ Đức M bị bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng bệnh ở giai đoạn bệnh sa sút. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.5. Đối tượng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi.

Từ những nhận định trên, có thể thấy yêu cầu của ông Võ Văn T là phù

hợp với trình trạng sức khỏe của anh Võ Đức M và phù hợp với Kết luận giám định của Viện pháp y tâm thần Trung ương. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của ông Võ Văn T về việc tuyên bố anh Võ Đức M là người mất năng lực hành vi dân sự.

Việc giám hộ của anh Võ Đức M sẽ được thực hiện theo quy định tại

Điều 53, 54, 57, 58 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái

Nguyên tại phiên họp là phù hợp và có căn cứ chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 27, Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 161,

367; 369; 370; 371; 372; 376 và 378 BLTTDS năm 2015; Điều 22; Điều 53; 54, 57, 58 và 59 BLDS 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Võ Văn T. Tuyên bố anh Võ Đức M,

sinh năm 1979, có HKTT: Tổ 02, phường GS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, hiện đang điều trị tại Trung tâm điều dưỡng và phục hồi chức năng tâm thần kinh Thái Nguyên là người mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Võ Văn T phải nộp 300.000

đồng lệ phí viê ̣c dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0000364 ngày 07/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

3. Về chi phí tố tụng: Ông Võ Văn T phải chịu chi phí giám định (đã thực

hiện xong).

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong

thời hạn 10 ngày, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp là 10 ngày của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên là 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ