vanban.org

Quyết định 11/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 22/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Nguyễn Thị M.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991, nơi cư trú: khu F, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh là người mất năng lực hành vi dân sự. Về chi phí trưng cầu giám định pháp y tâm thần bà M chịu chi phí đối với yêu cầu Giám định pháp y tâm thần và đã nộp đủ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố Mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Nguyễn Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/2023/QĐST-VDSMóng Cái, ngày 22 tháng 9 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Trần Thị Thu Nga.

Thư ký phiên họp: ông Nguyễn Hoàng Sơn, chức danh Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên họp: bà Tạ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 43/2023/TLST-VDS, ngày 10 tháng 7 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2023/QĐST-VDS, ngày 14 tháng 9 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1967

Địa chỉ tại: khu F, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1961

2/ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986

3/ Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1988

4/ Cháu Nguyễn Văn L1, sinh năm 2007

Đều có địa chỉ: khu F, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu L1: bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn M1 là mẹ đẻ và bố đẻ

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo nội dung đơn yêu cầu và bản tự khai của người yêu cầu bà Nguyễn Thị M trình bày: bà và ông Nguyễn Văn M1 là vợ chồng sinh được 04 con chung là Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị N và Nguyễn Văn L2. Chị N từ lúc sinh ra đã bị thiểu năng tuần hoàn não, không nhận thức được, không tự phục vụ bản thân, mọi sinh hoạt cá nhân hằng ngày đều do bà M chăm sóc, phục vụ. Nay bà M đề nghị Toà án tuyên bố chị Nguyễn Thị N mất năng lực hành vi dân sự.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M1, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị L, cháu Nguyễn Văn L1 đều thống nhất với nội dung lời khai của bà M

Lời khai của những người hàng xóm của bà M là ông Lê Văn N1, bà Vũ Thị N2 và đại diện chính quyền địa phương đều xác nhận tình trạng sức khỏe của chị Nguyễn Thị N như lời khai của bà M

Ngày 24/7/2023 Toà án nhân dân thành phố Móng Cái đã ra quyết định trưng cầu giám định sức khoẻ tâm thần đối với chị Nguyễn Thị N theo yêu cầu của bà M.

Tại kết luận giám định sức khoẻ tâm thần theo trưng cầu số 230/KLGĐ ngày 11/9/2023 của Viện pháp y tâm thần trung ương đã kết luận: tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Thị N bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F72. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết việc dân sự: về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng thẩm quyền, xác định đúng người có quyền yêu cầu. Về nội dung: căn cứ kết luận giám định sức khỏe tâm thần của Viện pháp y tâm thần trung ương có đủ cơ sở xác định chị Nguyễn Thị N bị mất năng lực hành vi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của đại điện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh nhận định:

[1] Về quyền yêu cầu: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị N, nên bà M có quyền yêu cầu Tòa án tuyên một người mất năng lực hành vi đối với chị N quy định tại khoản 1 Điều 376 Bộ luật Tố tụng Dân sư.

[2] Về tố tụng: yêu cầu của của bà Nguyễn Thị M tuyên bố một người mất năng lực hành vi đối với chị N là yêu cầu về dân sự, chị N có nơi cư trú tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái theo quy định tại khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về việc vắng mặt của người yêu cầu và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại phiên họp, những người này vắng mặt đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

[4] Xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, lời khai của người yêu cầu và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phù hợp với Bản kết luận giám định sức khoẻ tâm thần theo trưng cầu số: 230/KLGĐ ngày 11/9/2023 của Viện pháp y tâm thần trung ương, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định chị Nguyễn Thị N bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng (theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F72) hiện tại mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó yêu cầu của bà M và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[5] Về chi phí trưng cầu giám định pháp y tâm thần: người yêu cầu bà Nguyễn Thị M phải chịu chi phí giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu.

[6] Về lệ phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc Dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149 và các Điều 370, 371, 372, khoản 2, khoản 3 Điều 367 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Nguyễn Thị M.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991, nơi cư trú: khu F, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh là người mất năng lực hành vi dân sự.

- Về chi phí trưng cầu giám định pháp y tâm thần bà M chịu chi phí đối với yêu cầu Giám định pháp y tâm thần và đã nộp đủ.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí việc Dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007742 ngày 05/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày niêm yết quyết định theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị trong thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 372 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Cỡ chữ