- Tranh chấp gì? "Bùi Văn P"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn P tại Trung tâm Điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TAND thành phố L TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/2023/QĐ - TA | Thành phố Lai Châu, ngày 17 tháng 7 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN thành phố L, TỈNH LAI CHÂU
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Bà Phạm Thị Nga
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Lệ Quyên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lai Châu tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 12/2023/QĐ-TA ngày 17 tháng 7 năm 2023 đối với:
Họ và tên: Bùi Văn P (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1990; Số định danh cá nhân: 026090008453; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 1/12; Hộ khẩu thường trú: Tổ 3, phường Q, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lai Châu xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 33 tháng tù, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản, đã được xóa án tích; Con ông: Bùi Văn H, 59 tuổi và bà Nguyễn Thị P, 55 tuổi.
Bùi Văn P có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Vũ Thị Thúy – Phó Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh Lai Châu (Theo Giấy ủy quyền số 492/GUQ-LĐTB&XH ngày 17/7/2023).
2. Đại diện Viện kiểm sát : Ông Nguyễn Gia Binh- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lai Châu.
NHẬN THẤY:
Người bị đề nghị Bùi Văn P đã sử dụng ma túy từ năm 2017, loại ma túy sử dụng là Heroine. Ngày 26/05/2023, Bùi Văn P bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố L, tỉnh Lai Châu ra Quyết định số 39/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Bùi Văn P với thời hạn 01 năm, kể từ ngày 26/05/2023. Trong thời gian áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thì Bùi Văn P tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 21/6/2013 và ngày 22/6/2023 bị Công an phường Q mời lên trụ sở để tiến hành tets ma túy qua đường nước tiểu thì kết quả dương tính với ma túy. Công an phường Q đề nghị Trung tâm y tế thành phố L xác định tình trạng nghiện của Bùi Văn P. Ngày 26/6/2023, Trung tâm y tế thành phố L trả lời kết quả Bùi Văn P nghiện ma túy (Heroine). Căn cứ kết quả trên, ngày 26/6/2023 Công an phường Q đã vận động Bùi Văn P thực hiện đi đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện thay thế nhưng cho đến thời điểm hiện tại Bùi Văn P không nhất trí đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ngày 27/6/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố L, tỉnh Lai Châu ra Quyết định số 44/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Bùi Văn P. Ngày 03/7/2023 Uỷ ban nhân dân phường Q lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và ra Thông báo số 301/TB-UBND ngày 04/7/2023 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn P và ban hành Quyết định số 47/QĐ-UBND ngày 04/7/2023 giao Bùi Văn P cho Trung tâm điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc kể từ ngày 04/7/2023. Ngày 07/7/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Q gửi văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ cho Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L.
Ngày 10/7/2023 Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh Lai Châu có công văn số 413/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn P tại Trung tâm cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu với thời hạn từ 15 đến 18 tháng.
Tại bản biên bản lấy lời khai, Bùi Văn P đã thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy như đã nêu trên.
- Tại phiên họp:
+ Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh Lai Châu vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn P với thời hạn từ 15 đến 18 tháng tại Trung tâm cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu.
+ Ý kiến của người bị đề nghị: Bùi Văn P thừa nhận bản thân sử dụng ma túy từ năm 2017 nhưng đến nay không từ bỏ được chất ma túy (Heroine) và năm 2020 bị Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lai Châu xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 33 tháng tù và có đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian thấp nhất do con còn nhỏ để Bùi Văn P sớm được trở về với gia đình.
+ Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L:
+ Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn P là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền; Thẩm phán, Thư ký, Cơ quan đề nghị và người bị đề nghị đều đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L, về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn P với thời hạn từ 12 đến 18 tháng tại Trung tâm Điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu.
XÉT THẤY:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, kiểm sát viên.
Xét thấy:
Về tính hợp pháp của hồ sơ: Về đối tượng bị đề nghị, thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính và tài liệu có trong hồ sơ đã đúng theo quy định của Luật phòng, chống ma tuý năm 2021; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy.
Về nhân thân: Năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản, đã được xóa án tích; Tiền án: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lai Châu xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 33 tháng tù.
Về tình tiết giảm nhẹ: Người bị đề nghị Bùi Văn P đã thừa nhận có sử dụng ma túy (Heroine), nhận thức được việc nghiện ma túy của mình làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội, tự nguyện khai báo và thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: Người bị đề nghị Bùi Văn P không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Bùi Văn P; đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L; ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L. Tòa án nhân dân dân thành phố L có đủ cơ sở kết luận: Bùi Văn P có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính. Tại phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế thành phố L, tỉnh Lai Châu ngày 26/6/2023 xác định Bùi Văn P nghiện ma túy (Heroine) và đã được vận động thực hiện đi đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký uống thuốc dạng thay thế methadone nhưng Bùi Văn P không đăng ký, do đó thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Như vậy có căn cứ chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L và Viện kiểm sát nhân dân thành phố L về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn P với thời hạn 15 tháng tại Trung tâm Điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu là cần thiết, nhằm tiếp tục giáo dục, giúp đỡ Bùi Văn P có điều kiện chữa bệnh, lao động, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc và sớm hòa nhập cộng đồng, sống có ích cho bản thân và xã hội.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, các Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, 103, 105, 110, 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020;
Căn cứ vào các Điều 3, 23, 24, 31, 32 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ khoản 1 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy năm 2021;
Căn cứ Điều 40, 41, 42, 43, 54 Nghị định số 116/2021/ND-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn P tại Trung tâm Điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày 04/7/2023 tại Trung tâm Điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu.
3. Bùi Văn P có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định; Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Công an thành phố L, tỉnh Lai Châu có trách nhiệm thi hành quyết định này.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Công an TP Lai Châu; - Trưởng phòng LĐTBXH TP. Lai Châu; - VKSND TP Lai Châu; - UBND phường Q, TP Lai Châu; - Công an phường Q; - TT Điều trị CNBB tỉnh Lai Châu; - Lưu hồ sơ. | Phạm Thị Nga |