- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty TNHH Thương mại BH - Công ty TNHH Thương mại M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 04/2023/KN-KDTM ngày 24/7/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG Quyết định giám đốc thẩm | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/2023/KDTM-GĐT Ngày: 19/9/2023 V/v “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Với Hội đồng xét xử giám đốc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán: ông Lê Phước Thanh và ông Đặng Kim Nhân
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Thu Ba - Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Phan Văn Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 19/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án Kinh doanh thương mại:“Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH Thương mại BH; địa chỉ: Số 131-133 đường Lê Đình Dương, phường Nam Dương, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: bà Phạm Thị Hiền - Giám đốc.
2. Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại M; địa chỉ: Tổ 4, thôn Cồn Mong, xã Hòa Phước, huyện HV, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: ông Võ Văn Chẩm - Giám đốc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/11/2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Công ty TNHH Thương mại BH trình bày:
Công ty TNHH Thương mại BH (gọi tắt là Công ty BH) và Công ty TNHH Thương mại M (gọi tắt là Công ty M) có quan hệ mua bán hàng hóa lâu năm, vì có mối quan hệ mua bán hàng hóa lâu năm nên hai bên thực hiện mua bán hàng hóa của nhau mà không tiến hành ký kết hợp đồng bằng văn bản, việc mua bán được thực hiện khi mỗi bên có yêu cầu thì bên kia tiến hành giao hàng, xuất hóa đơn và sau đó bên mua thực hiện chuyển tiền cho bên bán. Nhiều lần Công ty BH đã xuất bán cho Công ty M các mặt hàng là các loại lốp và phụ tùng ô tô mà BH đang kinh doanh, trong đó có các lần xuất bán năm 2018 và năm 2019 theo hóa đơn giá trị gia tăng, cụ thể:
Năm 2018, Công ty BH xuất hóa đơn bán hàng cho Công ty M:
ST
Số Hóa đơn
Ngày xuất bán
Số tiền (Đơn vị: đồng) T
1
0000127
12/02/2018
17 050 000
2
0000867
28/03/2018
19 438 200
3
0001087
09/04/2018
19 525 000
4
0004395
31/08/2018
568 150 000
5
0005260
04/10/2018
753 940 000
6
0005701
23/10/2018
332 750 000
7
0005988
03/11/2018
362 340 000
8
0005986
03/11/2018
343 640 000
9
0006687
06/12/2018
369 490 000
10
0006751
07/12/2018
379 500 000
Năm 2019, Công ty BH xuất hóa đơn bán hàng cho Công ty M:
STT Số Hóa đơn
Ngày xuất bán
Số tiền (Đơn vị: đồng)
1
0007356
04/01/2019
401 500 000
2
0007406
07/01/2019
239 250 000
3
0007492
10/01/2019
265 738 000
4
0007638
16/01/2019
92 400 000
5
0007665
18/01/2019
255 200 000
6
0007768
21/01/2019
273 900 000
7
0007824
23/01/2019
280 500 000
8
0008155
15/02/2019
122 650 000
9
0008192
18/02/2019
98 980 000
10
0008213
19/02/2019
83 820 000
11
0008242
21/02/2019
137 280 000
12
0008266
22/02/2019
95 150 000
13
0008357
26/02/2019
148 280 000
14
0008389
27/02/2019
151 360 000
15
0008391
28/02/2019
55 999 988
16
0008392
28/02/2019
165 249 914
0008650
11/03/2019
27 528 000
18
0008680
13/03/2019
286 990 000
19
0008799
20/03/2019
23 650 000
20
0008802
21/03/2019
277 750 000
21
0008817
22/03/2019
142 120 000
22
0008937
26/03/2019
189 970 000
23
0008985
28/03/2019
147 950 000
24
0009032
30/03/2019
105 050 000
25
0009041
31/03/2019
165 000 000
26
0009044
01/04/2019
176 330 000
27
0009061
02/04/2019
231 880 000
28
0009147
06/04/2019
139 975 000
29
0009213
09/04/2019
178 200 000
30
0009251
11/04/2019
221 430 000
31
0009305
16/04/2019
175 560 000
32
0009845
13/05/2019
301 400 000
33
0009887
15/05/2019
450 912 000
34
0000001
20/05/2019
489 830 000
35
0000113
24/05/2019
326 920 000
36
0000161
27/05/2019
43 670 000
37
0000884
29/06/2019
1 301 960 000
38
0000885
29/06/2019
1 385 450 000
39
0000913
01/07/2019
52 470 000
40
0000933
03/07/2019
71 115 000
41
0001002
04/07/2019
75 625 000
42
0001043
06/07/2019
142 395 000
43
0001055
07/07/2019
200 255 000
44
0001101
09/07/2019
108 185 000
45
0001135
10/07/2019
98 780 000
46
0001186
13/07/2019
50 380 000
47
0001651
01/08/2019
177 562 000
48
0001665
02/08/2019
54 340 000
0001712
06/08/2019
104 170 000
50
0001735
07/08/2019
63 800 000
51
0001772
09/08/2019
151 580 000
52
0001866
11/08/2019
183 920 000
53
0001869
12/08/2019
477 070 000
54
0001894
13/08/2019
55 330 000
55
0002354
03/09/2019
211 200 000
56
0002447
07/09/2019
220 770 000
57
0002546
11/09/2019
195 580 000
58
0002551
11/09/2019
157 850 000
59
0002622
14/09/2019
184 580 000
60
0003029
01/10/2019
56 870 000
61
0003030
01/10/2019
10 780 000
62
0003050
01/10/2019
140 030 000
63
0003051
02/10/2019
60 060 000
64
0003089
03/10/2019
54 505 000
65
0003178
05/10/2019
115 280 000
66
0003198
07/10/2019
80 300 000
67
0003223
09/10/2019
109 120 000
68
0003258
10/10/2019
236 500 000
69
0003296
12/10/2019
290 400 000
70
0003334
15/10/2019
351 269 954
71
0003391
18/10/2019
216 949 988
72
0003860
05/11/2019
34 870 000
73
0003883
04/11/2019
49 610 000
74
0003944
09/11/2019
55 440 000
75
0003970
11/11/2019
33 055 000
76
0003749
12/11/2019
47 850 000
77
0004051
13/11/2019
47 740 000
78
0004063
14/11/2019
61 600 000
79
0004077
15/11/2019
36 300 000
80
0004096
16/11/2019
22 220 000
0004138
19/11/2019
24 530 000
82
0004139
19/11/2019
45 650 000
83
0004160
20/11/2019
44 880 000
84
0004535
04/12/2019
261 030 000
85
0004555
06/12/2019
118 723 000
Tổng số tiền năm 2018, 2019:
18.359.662.844 đồng
Tổng số hàng hóa mà Công ty M mua và đã nhận của Công ty BH từ ngày 10/01/2019 đến ngày 31/12/2019 có giá trị là: 15.290.302.844đ; Ngoài ra, Công ty M còn nợ chưa thanh toán cho Công ty BH tiền hàng của thời gian trước đó tính đến ngày 09/01/2019 số tiền 3.069.360.000đ. Tổng sổ tiền Công ty M phải trả cho Công ty BH tính đến ngày 31/12/2019 là: 15.290.302.844đồng + 3.069.360.000đồng = 18.359.662.844đ.
Năm 2019 Công ty M đã nhiều lần thanh toán tiền hàng cho Công ty BH, tổng số tiền mà Công ty M đã thanh toán cho Công ty BH là 13.169.828.824đ, số nợ còn lại Công ty M chưa trả cho Công ty BH là 5.189.834.020đ. Đồng thời, trong năm 2019 Công ty BH có mua của Công ty M một số hàng hóa là xăm xe và bình điện, theo các hóa hơn có giá trị cụ thể như sau:
STT
Số hóa đơn
Ngày xuất
Số tiền (Đơn vị: đồng)
1
0002462
05/10/2019
198 000 000
2
0002453
02/10/2019
280 500 000
3
0002493
15/10/2019
296 450 000
4
0002496
17/10/2019
121 000 000
Tổng số tiền:
895.950.000
Số tiền hàng 895.950.000 đồng mà Công ty BH mua của Công ty M được cấn trừ vào khoản nợ mà Công ty M chưa thanh toán cho Công ty BH nêu trên.
Như vậy, tính đến ngày 19/11/2021, Công ty M còn nợ Công ty BH số tiền 4.293.884.020đ. Công ty BH đã nhiều lần yêu cầu Công ty M thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng không được, Công ty M không thiện chí trả nợ. Nay, Công ty BH yêu cầu Công ty M thanh toán số tiền 4.293.884.020đ và tiền lãi tính từ ngày 06/12/2020 đến ngày 17/02/2022 với lãi suất 10%/năm (4.293.884.020đ x 437ngày x 10%/năm) là 514.089.676đ. Tổng số tiền yêu cầu Công ty M phải trả cho Công ty TNHH Thương mại BH là 4.807.973.696đ; đồng thời trả tiền lãi tiếp theo đến khi trả xong khoản nợ trên số tiền gốc.
- Bị đơn là Công ty TNHH Thương mại M trình bày:
Công ty M xác nhận có mua bán hàng hóa lốp và phụ tùng xe ô tô với Công ty BH. Năm 2018 và 2019 giữa hai công ty có mua bán các loại hàng hóa lốp và phụ tùng ô tô, khi mua bán hàng hóa hai công ty không có hợp đồng bằng văn bản chỉ có hợp đồng bằng miệng, khi Công ty M cần mua hàng thì Công ty BH sẽ bán hàng hóa và xuất hóa đơn, Công ty M trả tiền qua tài khoản Ngân hàng TMCP Công Thương - Chi nhánh Bắc Đà Nẵng (Viettinbank) cho Công ty BH, Công ty BH xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty M;
Trong năm 2020, Công ty TNHH Thương mại M có 03 lần nhận được giấy đề nghị thanh toán của Công ty BH, với số tiền đề nghị thanh toán là 4.293.884.020 đồng, nhưng do Công ty M chưa cân đối được khoản nợ mua hàng hóa trong năm 2018 và 2019 là bao nhiêu nên Công ty M không ký vào giấy xác nhận nợ với Công ty BH. Hiện nay Công ty M có đơn tố cáo bà Phạm Thị Hiền - nguyên là thành viên Công ty M có hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty M tại Công an thành phố Đà Nẵng nên đề nghị Tòa án xem xét tạm đình chỉ giải quyết vụ án này để chờ kết quả giải quyết tố cáo của Công an thành phố Đà Nẵng liên quan đến cá nhân bà Phạm Thị Hiền.
III. Quá trình giải quyết vụ án:
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2022/KDTM-ST ngày 17-02-2022 Tòa án nhân dân huyện HV, thành phố Đ quyết định:
Căn cứ Điều 280, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Thương mại BH đối với Công ty TNHH Thương mại M về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”.
Tuyên xử:
1. Buộc Công ty TNHH Thương mại M phải trả cho Công ty TNHH Thương mại BH số tiền 4.807.973.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 01/3/2022, Công ty M có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm.
Ngày 16/3/2022, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng kháng nghị Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm nêu trên.
Tại Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 20/2022/KDTM-PT ngày 13/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đ quyết định:
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Thương mại M; Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 01/2022/KDTM-ST ngày 17/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện HV, thành phố Đ.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn tuyên phần án phí của các đương sự.
- Ngày 12/8/2022, Công ty TNHH thương mại M có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 20/2022/DS-PT ngày 13/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đ.
- Ngày 24/7/2023 Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng ban hành Quyết định kháng nghị số 04/2023/KN-KDTM về việc đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm, hủy toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 20/2022/KDTM-PT ngày 13-7-2022 của Toà án nhân dân thành phố Đ và Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2022/KDTM-ST ngày 17-02-2022 của Tòa án nhân dân huyện HV.
* Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 04/2023/KN-KDTM ngày 24/7/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Công ty BH khởi kiện cho rằng vào năm 2018, 2019 Công ty M mua hàng của Công ty BH với tổng số tiền 18.359.662.844 đồng (gồm 95 hóa đơn kèm theo), Công ty M đã thanh toán được 13.169.828.000 đồng, còn nợ lại số tiền 4.293.884.020 đồng, do đó Công ty BH yêu cầu Công ty M trả số nợ còn lại trên. Phía Công ty M thừa nhận có mua hàng của Công ty BH với tổng số tiền 18.359.662.844 đồng (gồm 95 hóa đơn) nhưng Công ty M đã dùng 36 (7+29) hóa đơn để vay Ngân hàng trả cho Công ty BH với số tiền 11.533.620.000 đồng (3.069.360.000đồng + 8.464.260.000đồng). Số tiền 13.169.828.824 đồng là Công ty M đã trả chuyển trả cho Công ty BH (không vay Ngân hàng), nên Công ty M cho rằng đã trả vượt số tiền nợ cho Công ty BH là 6.722.997.824 đồng (13.169.828.824 – 6.446.831.000 đồng).
[2]. Công ty BH và Công ty M thừa nhận trong năm 2018 và 2019, Công ty M mua hàng của Công ty BH thể hiện qua 95 hóa đơn với số tiền 18.359.662.844 đồng. Công ty BH cung cấp các chứng từ cho rằng Công ty M đã trả số tiền 13.169.828.000 đồng, còn nợ số tiền 4.293.884.020 đồng, trong khi đó Công ty M cung cấp 36 hóa đơn cho rằng đã vay tiền của Ngân hàng để thanh toán cho Công ty BH số tiền 11.533.620.000 đồng (gồm 07 hóa đơn mua hàng năm 2018 với số tiền 3.069.360.000 đồng và 29 hóa đơn mua hàng năm 2019 với số tiền 8.464.260.000 đồng); Đối chiếu các hóa đơn do Công ty M cung cấp với danh sách các hóa đơn do Công ty BH liệt kê thì thấy có 36 hóa đơn có đóng dấu “đã cho vay”; điều này chứng tỏ Công ty M có vay của Ngân hàng để trả cho Công ty BH 36 hóa đơn như phía Công ty M trình bày là phù hợp.
[3]. Các chứng từ mà Công ty BH cung cấp (gồm Phiếu thu và Giấy báo có) cho rằng Công ty M đã trả số tiền 13.169.828.000 đồng, trên mỗi Phiếu thu đều thể hiện: “thu tiền bán hàng theo hóa đơn số: ......” (ví dụ như hóa đơn số 3141). Qua đối chiếu các số hóa đơn trên Phiếu thu thì thấy chỉ có hai Phiếu thu tại Bút lục số 42 và 44 là nằm trong danh sách mà BH đã liệt kê nhưng lại không nằm trong các hóa đơn mà Công ty M dùng để vay Ngân hàng trả cho Công ty BH (mục 82, 83). Như vậy, các Phiếu thu do Công ty BH cung cấp có phải số tiền Công ty M vay Ngân hàng để trả hay không vay Ngân hàng để trả thì chưa được làm rõ. Tòa án 2 cấp đánh đồng tất cả các chứng từ vay và căn cứ vào trình bày của phía nguyên đơn để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là chưa có căn cứ vững chắc. Do vậy, cần hủy Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại để làm rõ các vấn đề nêu trên.
Từ những nhận định trên thấy rằng Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 04/2023/KN-KDTM ngày 24/7/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận toàn bộ
kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 337; khoản 3 Điều 343, Điều 345, Điều 348 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xử:
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 04/2023/KN-KDTM ngày 24/7/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
2. Hủy toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 20/2022/KDTM-PT ngày 13-7-2022 của Toà án nhân dân thành phố Đ và Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2022/KDTM-ST ngày 17-02-2022 của Tòa án nhân dân huyện HV về vụ án “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” giữa nguyên đơn là Công ty TNHH Thương mại BH với bị đơn là Công ty TNHH Thương mại M.
3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện HV, thành phố Đ để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra II - TANDTC; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND TP Đ; - TAND huyện HV (kèm hồ sơ vụ án để xét xử sơ thẩm lại); - Chi cục Thi hành án dân sự huyện HV (để thi hành); - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: Phòng Giám đốc kiểm tra II và hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CÁC THẨM PHÁN Trương Minh Tuấn Nguyễn Cường | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Cường THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phước Thanh |