vanban.org

Quyết định 11/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lò Văn H và chị Tòng Thị N.

Về con chung: Giao cháu Lò Đăng D, sinh ngày 23/01/2017 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H. Sau khi ly hôn, chị N được quyền thăm nom con, không ai được cản trở chị N được thực hiện quyền này theo quy định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lò Văn H và chị Tòng Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HNGĐ-ST
Ngày 19 tháng 12 năm 2022
V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tráng A Tếnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cầm Văn Tổ

2. Ông Nguyễn Đức Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 18/11/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lò Văn H, sinh năm 1990. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản X, xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Bị đơn: Chị Tòng Thị N, sinh năm: 1997. Nơi ĐKHKTT: Bản X, xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi ở hiện nay: huyện An Lão, tỉnh Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lò Văn H trình bày như sau:

Anh và chị Tòng Thị N kết hôn với nhau từ năm 2015 do cả hai cùng tự nguyện. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La vào ngày 02/12/2015 và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Do kinh tế khó khăn hai vợ chồng đi làm thuê ở Hải Phòng, quá trình chung sống sảy ra cãi vã, chị N cắt liên lạc, chuyển nơi ở nên anh H trở về địa phương để sinh sống, nuôi con chung và tìm chị N.Thời gian qua, anh H xác định đã không còn tình cảm vợ chồng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị N.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Lò Đăng D, sinh ngày 23/01/2017. Anh có nguyện vọng sau khi ly hôn được nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành và không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh.

Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Anh xác nhận, trong thời kỳ hôn nhân, anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung.

Tại văn bản trình bày ý kiến chị Tòng Thị N trình bày:

Chị và anh Lò Văn H kết hôn với nhau từ năm 2015 do cả hai cùng tự nguyện. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La vào ngày 02/12/2015 và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau tại gia đình chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do kinh tế khó khăn, anh chị đi làm thuê, anh H hay ghen tuông, chị không được tôn trọng nên chị mới bỏ đi. Đối với yêu cầu xin ly hôn của anh H, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn. Anh chị có một con chung là Lò Đăng D, sinh ngày 23/01/2017 chị có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung vợ chồng của anh H, chị N. Qua xác minh xác định: Anh H, chị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đi đăng ký kết hôn theo quy định và được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Trong thời gian chung sống, anh chị tuân thủ quy định của pháp luật, không có hành vi gây mất trật tự trị an địa phương, anh chị cùng nhau đi làm thuê ở địa phương khác, mâu thuẫn không qua hòa giải tại địa phương nên địa phương không nắm được, chỉ biết sau một thời gian làm thuê thì thấy anh H trở về địa phương một mình. Anh chị có 01 con chung hiện đang ở cùng anh H, đề nghị Tòa án giải quyết đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung chưa thành niên. Anh H chị N không có tài sản chung, địa phương không nắm được anh chị có nợ chung hay không.

Do nguyên đơn có yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần vẫn vắng mặt không có lý do nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định.

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 147; Điều 266; Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 20 15; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử theo hướng: Về hôn nhân cho ly hôn giữa anh Lò Văn H và chị Tòng Thị N. Về con chung: Giao cháu Lò Đăng D, sinh ngày 23/01/2017 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không có. Về án phí: Anh Lò Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng:

Xét yêu cầu khởi kiện được xác định trong đơn khởi kiện và lời khai của anh Lò Văn H yêu cầu xin ly hôn đối với chị Tòng Thị N, nơi cư trú: Bản X, xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình với quan hệ pháp luật tranh chấp là ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn là đúng quan hệ pháp luật, đúng thẩm quyền căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trước khi mở phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ những vẫn vắng mặt lần hai không có lý do. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về yêu cầu xin ly hôn:

Về hôn nhân:

Anh Lò Văn H và chị Tòng Thị N tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2015, anh chị đã được UBND xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/12/2015. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó anh chị là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh H là do chị N tự ý bỏ đi và cắt đứt liên lạc với anh còn chị N cho rằng mâu thuẫn sảy ra do anh H ghen tuông không tin tưởng chị và không tôn trọng chị trong quá trình vợ chồng chung sống đi làm ăn kinh tế. Anh chị có thời gian sống ly thân trước khi có đơn xin ly hôn tại Tòa án. Cả hai đều xác định vợ chồng không thể tiếp tục chung sống, không ai quan tâm đến ai và thống nhất ly hôn. Quá trình xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương cũng thể hiện rõ vợ chồng anh chị đã không sống cùng nhau một thời gian. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh chị đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho ly hôn giữa anh Lò Văn H và chị Tòng Thị N.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Lò Đăng D, sinh ngày 23/01/2017. Anh H và chị N đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành. Thu nhập chính của anh H là làm lao động tự do. Chị N trình bày hiện đang làm công nhân tại công ty LG DISPLAY khu công nghiệp Tràng Duệ, An Dương, Hải Phòng nhưng không cung cấp hợp đồng lao động hay bảng lương chứng minh thu nhập. Thực tế, thời gian ly thân cháu D đang được anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng có sự giúp đỡ của ông bà nội, cháu vẫn được đảm bảo việc học tập và sinh hoạt. Chị N hiện không có ở địa phương, khi được Tòa án triệu tập lại vắng mặt không có lý do. Để đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên, cần giao cháu D cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục đến khi cháu trưởng thành. Về nghĩa vụ cấp dưỡng do anh H không yêu cầu nên chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H chị N đều xác nhận không có tài sản chung, nợ chung vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lò Văn H và chị Tòng Thị N.

2. Về con chung: Giao cháu Lò Đăng D, sinh ngày 23/01/2017 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H.

Sau khi ly hôn, chị N được quyền thăm nom con, không ai được cản trở chị N được thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Anh H, chị N xác nhận không có tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.

4. Về án phí: Anh Lò Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0002276 ngày 18 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN MAI SƠN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút, ngày 19 tháng 12 năm 2022.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tráng A Tếnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cầm Văn Tổ

2. Ông Nguyễn Đức Việt

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 20/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 18/11/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lò Văn H, sinh năm 1990. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản X, xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Bị đơn: Chị Tòng Thị N, sinh năm: 1997. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản X, xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

1. Về điều luật áp dụng

Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Biểu quyết: 3/3 nhất trí.

2. Việc giải quyết vụ án

2.1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lò Văn H và chị Tòng Thị N.

Biểu quyết: 3/3 nhất trí.

2.2. Về con chung: Giao cháu Lò Đăng D, sinh ngày 23/01/2017 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H.

Sau khi ly hôn, chị N được quyền thăm nom con, không ai được cản trở chị N được thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Biểu quyết: 3/3 nhất trí.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Anh H, chị N xác nhận không có tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.

Biểu quyết: 3/3 nhất trí.

3. Về án phí.

Anh Lò Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0002276 ngày 18 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

Biểu quyết: 3/3 nhất trí.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Biểu quyết: 3/3 nhất trí.

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 19 tháng 12 năm 2022.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ