- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị L về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Số: 11/2021/QĐST-DS Ngày: 07-6-2021 V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi” |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Phan Hồng Thạnh
Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Luật – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 75/2021/TLST-VDS ngày 08 tháng 01 năm 2021 về yêu cầu “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 10/2021/QĐST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2021 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1982. (Chị L có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà 123, Tổ e, ấp w, xã PL, huyện TP, tỉnh ĐN.
Người bị yêu cầu: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952
Địa chỉ: Số nhà 123, Tổ e, ấp w, xã PL, huyện TP, tỉnh ĐN.
2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Chị Nguyễn Thị L yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị N mất năng lực hành vi dân sự.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Nguyễn Thị L trình bày:
Cha mẹ của chị là ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị N. Ông Xuâ và bà N sinh được 05 người con tên: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1978; Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1980; Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; Nguyễn Thị P, sinh năm 1984 và Nguyễn Văn T, sinh năm 1986. Ông X hiện cũng đang mắc bệnh Alzheimer. Chị Q và anh Đ bị tâm thần phân liệt và đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.
Năm 2015, bà N có biểu hiện không nhận thức được không gian, thời gian, không nhớ được tên của các con, rôi loạn giấc ngủ và không tự sinh hoạt được trong cuộc sống hằng ngày. Theo phiếu khám sức khỏe tâm thần ngày 23/02/2021, bà N được Bệnh viện tâm thần trung ương 2 kết luận bà bị mất trí nhớ trong bệnh Alzheimer (g30.-)(F00*-ICD10).
Do bà N bị bệnh nên không có năng lực hành vi của mình. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án tuyên bố mẹ chị là bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952; địa chỉ: Số nhà 123, Tổ 3, ấp 5, xã Phú Lập, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai bị mất năng lực hành vi dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà L đã cung cấp những tài liệu, chứng cứ sau: Trích lục khai sinh (bản sao); giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn X (bản sao); Phiếu khám sức khỏe tâm thần ngày 23/02/2021(bản chính); chứng minh nhân dân của chị L, bà N (bản sao); sổ hộ khẩu gia đình (bản sao); sổ lĩnh tiền xã hội hàng tháng của chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Ngọc Đ (bản photo, đã đối chiếu bản chính); phiếu khám sức khỏe tâm thần của Nguyễn Thị Q (bản photo);
Để giải quyết việc dân sự, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: Kết luận giám định phá y tâm thần số 332/KL-VPYTW ngày 14/5/2021; Đơn yêu cầu vắng mặt của chị L, Bản tự khai chị L, chứng minh nhân dân của anh T (bản sao); bản tự khai của anh T, Chứng minh nhân dân chị P, bản tự khai và đơn xin vắng mặt của chị P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Chị Nguyễn Thị L yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952; địa chỉ: Số nhà 123, Tổ 3, ấp 5, xã Phú Lập, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai mất năng lực hành vi dân sự. Bà N có địa chỉ tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong việc dân sự này là “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
. Về tư cách tham gia tố tụng:
Theo đơn yêu cầu chị Nguyễn Thị L yêu cầu tuyên bố bà N mất năng lực hành vi dân sự nên chị L là người yêu cầu giải quyết việc dân sự. Theo đơn chị không yêu cầu chỉ định người giám hộ và quản lý tài sản của người mất năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, xét thấy việc giải quyết việc dân sự không liên quan đến quyền và lợi ích của chị Nguyễn Thị Q, anh Nguyễn Ngọc Đ, chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn T. Đồng thời, chị P và anh T đều đồng ý việc chị L yêu cầu tuyên bố bà N mất năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, chị Nguyễn Thị Q, anh Nguyễn Ngọc Đ, chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn T không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Chị Nguyễn Thị L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt họ. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
. Về nội dung yêu cầu của đương sự: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định: Bà Nguyễn Thị N là mẹ của chị Nguyễn Thị L. Hiện nay, bà N không làm được gì, mọi sinh hoạt đều phải có người phụ giúp, không nhận thức được hành vi của mình.
Ngày 15/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 05/2021/QĐ-TA, trưng cầu Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa tiến hành giám định tâm thần đối với bà Nguyễn Thị N.
Tại kết luận Giám định pháp y tâm thần số 332/KL-VPYTW ngày 14/5/2021 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đối với bà Nguyễn Thị N, xác định: “Về y học, hiện nay: Đương sự bị bệnh mất trí nhơ do bệnh Alzheimer khởi phát muộn (00.1-ICD.10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay, đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Căn cứ Điều 22 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu của chị L về việc yêu cầu tuyên bố bà N mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ nên được chấp nhận.
. Về quyền và nghĩa vụ của người giám hộ: Chị L không yêu cầu nên không xem xét.
. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Nguyễn Thị L phải chịu lệ phí sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến như sau: Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý việc dân sự đến ngày mở phiên họp, Tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Yêu cầu của chị Nguyễn Thị L là có căn cứ, vì vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị L. Tuyên bố bà Nguyễn Thị N mất năng lực hành vi dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào:
+ Khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 372, khoản 1 Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự;
+ Điều 22, 48, 49, 53, 54, 57, 58 Bộ luật dân sự;
+ Khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị L về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952; địa chỉ: Số nhà 123, Tổ 3, ấp 5, xã Phú Lập, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai bị mất năng lực hành vi dân sự.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm. Số tiền 300.0000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị L đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai thu số 002010 ngày 08 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành lệ phí sơ thẩm.
3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ quyết định. Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - VKSND huyện Tân Phú; - Chi cục THADS huyện Tân Phú; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phan Hồng Thạnh |