- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị Kim V"
- Tòa quyết gì? Hủy toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 37/2019/QĐST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/2020/QĐ-PT | Đà Nẵng, ngày 14 tháng 02 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Phạm Tồn.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tấn Trường
Ông Nguyễn Tấn Long
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 37/2019/QĐST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2019.
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã căn cứ điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản, hủy giấy chứng nhận chuyển dịch tài sản quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở”, giữa:
- Đồng Nguyên đơn:
1. Bà Nguyễn Thị Kim V, sinh năm 1958;
Địa chỉ: 75/4/7 Đường S2, thị trấn L2, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Anh Nguyễn Phi V1, sinh năm 1981;
3. Anh Nguyễn Vũ B, sinh năm 1983;
Cùng địa chỉ: 65 Đường L3, phường B2, thị xã A, tỉnh Bình Định.
4. Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1987;
5. Anh Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 1988;
Cùng địa chỉ: 93 Đường Ng, phường B2, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo ủy quyền của bà V, anh B, anh L và anh L1 là anh Nguyễn Phi V1, sinh năm 1981; địa chỉ: 65 Đường L3, phường B2, thị xã A, tỉnh Bình Định (Ủy quyền theo các Giấy ủy quyền ngày 13/6/2014 và ngày 30/6/2014).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1961;
Địa chỉ: 256 đường Ng1, phường Đ1, thị xã A, tỉnh Bình Định.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Hồ Thị C, sinh năm 1956;
Địa chỉ: 65 Đường L3, phường B2, thị xã A, tỉnh Bình Định.
2. Bà Hồ Thị H1, sinh năm 1964;
Địa chỉ: 93 Đường Ng, phường B2, thị xã A, tỉnh Bình Định.
3. Ông Nguyễn Thanh B1, sinh năm 1950;
Địa chỉ: Thôn M, xã Nh, thị xã A, tỉnh Bình Định.
4. Chị Nguyễn Thị Ái T, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Thôn 5, xã E, huyện E1, tỉnh Đắk Lắk.
5. Chị Nguyễn Thị Ái V2, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Khu vực K, phường B2, thị xã A, tỉnh Bình Định.
6. Chị Nguyễn Thị Ái D, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Khu vực H3, phường Nh1, thị xã A, tỉnh Bình Định.
7. Anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1978;
Địa chỉ: xã A1, thị xã B3, tỉnh Bình Dương.
8. Chị Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Thôn T1, xã Nh, thị xã A, tỉnh Bình Định.
9. Chị Nguyễn Thị Minh H2, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Thôn T2, xã Nh, thị xã A, tỉnh Bình Định.
10. Chị Nguyễn Thị Ái N2, sinh năm 1988;
Địa chỉ: 54/2 Đường H4, thị xã T2, tỉnh Bình Dương.
11. Chị Nguyễn Thị Ái N3, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Tiểu bang Washington, USA.
12. Chị Nguyễn Thị Tuyết S, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Tiểu bang Washington, USA.
13. Chị Nguyễn Thị Thanh D1, sinh năm 1989;
Địa chỉ: 54/2 Đường H4, thị xã T2, tỉnh Bình Dương.
14. Ủy ban nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định;
Địa chỉ trụ sở: 78 Đường L3, phường B2, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Vĩnh S1; chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã A.
Tại Đơn kháng cáo ngày 22 tháng 11 năm 2019 của đồng Nguyên đơn là anh Nguyễn Phi V1 với lý do Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 37/2019/QĐST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2019, là thiếu cơ sở, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp, quyền khởi kiện của Anh. Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn đã cung cấp địa chỉ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các chị: Nguyễn Thị Ái N3 và Nguyễn Thị Tuyết S; tuy nhiên, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định lấy lý do Nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ mới của các đương sự nêu trên làm căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án, là không đúng. Vì vậy, anh Nguyễn Phi V1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 37/2019/QĐST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
XÉT THẤY:
Vụ án đã được Tòa án thụ lý từ năm 2004 và qua nhiều cấp xét xử, trong quá trình giải quyết vụ án trước đây, các đương sự đã cung cấp rõ ràng địa chỉ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các chị Nguyễn Thị Ái N3 và Nguyễn Thị Tuyết S; đồng thời, Tòa án cũng đã tiến hành ủy thác tư pháp cho các đương sự theo địa chỉ: VA 22193 Hoa Kỳ (các bút lục từ 278 đến 297). Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 40/2017/DS-PT ngày 27/6/2017, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã tuyên hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2016/DS-ST ngày 15/07/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
Ngày 14/11/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã thụ lý vụ án (bút lục số 875), đây là vụ án có yếu tố nước ngoài nên phải áp dụng Chương XXXVIII Phần thứ Tám quy định về Thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài để giải quyết vụ án. Tuy nhiên, sau khi thụ lý lại vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định không thực hiện đúng Điều 473 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về Yêu cầu cung cấp thông tin về nhân thân, xác định địa chỉ của đương sự ở nước ngoài; hơn nữa, trước đây Nguyên đơn đã cung cấp địa chỉ cụ thể của các đương sự ở nước ngoài nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng đúng và đầy đủ các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài theo quy định tại Điều 474 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự được hướng dẫn chi tiết tại điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ Luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 Về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án” thì việc, chị Nguyễn Thị Ái N3 và Nguyễn Thị Tuyết S nếu có địa chỉ mới nhưng không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không được trả lại đơn khởi kiện mà xác định những người này cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Do vậy, việc Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định nhận định nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ hiện nay của các đương sự để làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án, là áp dụng không đúng pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Nên, cần chấp nhận kháng cáo của đồng Nguyên đơn – anh Nguyễn Phi V1 để hủy toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 37/2019/QĐST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Hủy toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 37/2019/QĐST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định để tiếp tục giải quyết vụ án.
2. Về án phí: Anh Nguyễn Phi V1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả lại cho anh V1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003738 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định. Nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Đà Nẵng;; - TAND tỉnh Bình Định; - Cục THADS tỉnh Bình Định; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Phạm Tồn |