vanban.org

Quyết định 11/2020/DS-GĐT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 12/03/2020 Dân sự Giám đốc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 02/2019/KN-DS ngày 04/12/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 196/2016/DSPT ngày 06/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2016/DS-ST ngày 21/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, the… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 02/2019/KN-DS ngày 04/12/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Quyết định giám đốc thẩm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/2020/DS-GĐT
Ngày 12 tháng 3 năm 2020
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phạm Việt Cường

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tiến

Ông Lê Phước Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Ba, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

- Bà Trần Thị L, sinh năm 1935; ông Trần Ch, sinh năm 1960; bà Trần Thị L1, sinh năm 1963; bà Trần Thị L2, sinh năm 1966; bà Trần Thị L3, sinh năm 1969 và Trần Thị M, sinh năm 1972.

Cùng địa chỉ cư trú: Xóm X, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình;

- Anh Trần Hòa Ph, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Thôn X, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo ủy quyền của đồng nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; địa chỉ cư trú: Thôn X, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (Văn bản ủy quyền số 1282 ngày 13/5/2010).

2. Bị đơn:

- Ông Nguyễn Thế B; địa chỉ cư trú: Thôn V, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (đã chết ngày 13/12/2010).

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:

+ Bà Hồ Thị Th (là vợ ông B) và chị Nguyễn Thị Th1 (là con ông B); nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

+ Chị Nguyễn Thị Tr, chị Nguyễn Thị Th3, anh Nguyễn Thế B1; cùng địa chỉ cư trú: Thôn 8, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

+ Anh Nguyễn Thế Ph; địa chỉ cư trú: Thôn 10, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân huyện B; địa chỉ: Đường Số 1, W, B, Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Thế Ng, chức vụ: Giám đốc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (Văn bản ủy quyền số 1491 ngày 14/4/2014).

- Ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B; cùng địa chỉ cư trú: Thôn X, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại “Đơn khởi kiện” và trong quá trình giải quyết vụ án, đồng nguyên đơn là bà Trần Thị L, ông Trần Ch, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị L2, bà Trần Thị L3, bà Trần Thị M và anh Trần Hòa Ph và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:

Vợ chồng bà Trần Thị L và ông Trần U có 06 người con chung là Trần Ch, Trần Thị L1, Trần Thị L2, Trần Thị L3, Trần Thị M và Trần Hòa Ph. Năm 1995, ông Trần U được Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thị xã Buôn Ma Thuột cấp cho một lô đất thổ cư có diện tích 1.100 m2 ở thôn Tân Tiến, xã Cuôr Knia, thị xã Buôn Ma Thuột (nay thôn 10, xã T, huyện B) và được cấp Giấy xác nhận quyền sử dụng đất số: 102/ĐK-TK-RĐ ngày 06/3/1995 mang tên hộ ông Trần U.

Ngày 08/3/1995, ông Trần U đổi cho ông Nguyễn Thế B một phần đất, có diện tích đất 250 m2 (rộng mặt đường và mặt sau 05 m, cạnh dài hai bên 50 m), vị trí: Đông giáp đường quốc lộ B đi Ea Súp; Tây giáp đường chợ Tân Tiến; Nam giáp đất ông Võ Thành V; Bắc giáp đất ông Đặng Xuân Tr để lấy diện tích đất rẫy 10.000 m2 tại đồi Cầy, thôn Tân Tiến, xã Cuôr Knia, thị xã Buôn Ma Thuột, hai bên đã đổi và nhận đất sử dụng. Năm 1997, do không có người trông coi nên ông Trần U bán lại diện tích đất rẫy này cho ông Nguyễn Thế B, với giá 20 chỉ vàng loại 97%. Ông Trần U đã giao đất cho ông Nguyễn Thế B sử dụng, nhưng ông B chưa thanh toán vàng cho Trần U.

Năm 2002, ông Trần U bị tai nạn giao thông, trước khi chết Trần U có nói với ông Trần Ch (con đẻ) về giao dịch mua bán đất và cho rằng ông B đang còn nợ Trần U số lượng 20 chỉ vàng loại 97%. Năm 2003, ông Ch đến nhà ông B đòi số vàng trên, nhưng ông B không có vàng để trả. Ngày 15/02/2003, ông B viết giấy trả lại diện tích đất 250 m2 ở thôn Tân Tiến, xã Cuôr Knia, thị xã (nay là thành phố) Buôn Ma Thuột cho ông Ch . Tuy nhiên, năm 2007 ông B tự ý lấy lô đất này chuyển nhượng cho vợ chồng ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B. Thấy có người sử dụng trên lô đất của gia đình mình, nên bà Trần Thị L cùng các con đã khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thế B phải giao trả lại đất cho gia đình bà. Không chấp nhận lấy 25 chỉ vàng loại 97% như ý kiến của ông Nguyễn Thế B.

- Bị đơn ông Nguyễn Thế B (đã chết), nhưng các lời khai của ông B có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Ông Nguyễn Thế B công nhận giữa ông và ông Trần U có đổi đất cho nhau, sau đó Trần U không có nhu cầu sử dụng nên ông đã mua lại đất rẫy của Trần U trị giá 20 chỉ vàng loại 97%, nhưng do điều kiện ông chưa có vàng, nên ông còn nợ lại Trần U 20 chỉ vàng. Sau khi Trần U chết, ông hứa sẽ thanh toán cho vợ con Trần U. Tuy nhiên, do không có khả năng thanh toán, nên ông đã viết giấy trả lại lô đất thổ cư (250 m2) nêu trên cho ông Trần Ch (là con Trần U). Năm 2007, không thấy ông Ch sử dụng đất nên ông đã sang nhượng lô đất trên cho vợ chồng ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B, với giá 50 chỉ vàng loại 97%. Khi bà Nguyễn Thị T (vợ không hợp pháp của Trần U) khiếu nại, ông đồng ý thanh toán 25 chỉ vàng loại 97% (tại UBND xã T), nhưng bà T không chấp nhận. Do đó, ông không chấp nhận giao trả lại đất cho gia đình ông Trần Ch (trong quá trình giải quyết vụ án, năm 2010 ông Nguyễn Thế B chết không để lại di chúc).

Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Thế B:

+ Chị Nguyễn Thị Th3 trình bày: Chị là con ông Trần Thế Bình, việc ông B mua bán, chuyển nhượng đất cho ai chị không biết. Chị xây dựng gia đình đã lâu, không được thửa hưởng tài sản gì của bố, nên không chịu kế thừa nghĩa vụ của ông B để lại. Tài sản của ông B đã tặng cho con là trai Nguyễn Thế B1, gồm đất và vườn cây ở thôn 8, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

+ Chị Nguyễn Thị Tr, anh Nguyễn Thế B1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng chị Nguyễn Thị Tr, anh Nguyễn Thế B1 cố tình vắng mặt nên không lấy được lời khai.

+ Bà Hồ Thị Thảnh, chị Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thế Ph (con ông B): Cả ba người hiện nay bỏ đi khỏi địa phương không rõ nơi cư trú; mặc dù, đã được nhắn tín tìm kiếm trên phương tiện thông tin truyền thông, nhưng cả ba người vẫn vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ UBND huyện B, do ông Hoàng Thế Ng là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Tháng 9/2012, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện B tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B ở thôn 10, xã T, huyện B. Qua xem xét, thì hồ sơ này phù hợp với quy định của Luật Đất đai. Vì vậy, UBND huyện B ra quyết định và ngày 28/11/2012, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 002488 mang tên Đặng Xuân Tr và Đinh Thị B đối với thửa đất số 01, tờ bản đồ số 00, với diện tích 249 m2 ở thôn 10, xã T, huyện B. Hiện nay thửa đất này đang có tranh chấp, nên Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện B không cho vợ chồng ông Đặng Xuân Tr thế chấp tại Ngân hàng nào để vay vốn.

- Ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B trình bày:

Tháng 11/2017, vợ chồng ông, bà có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Thế B một lô đất diện tích 250 m2 ở thôn 10, xã T, huyện B, giá 50 chỉ vàng loại 97%. Việc chuyển nhượng hai bên chỉ làm giấy tay, không qua chính quyền địa phương xác nhận. Khi mua bán, ông B có cung cấp cho vợ chồng ông, bà Giấy xác nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã Buôn Ma Thuột cấp cho ông Trần U. Sau khi hai bên ký kết, vợ chồng ông, bà thanh toán đủ vàng cho ông B và được ông B giao đất. Sau đó, vợ chồng bà đã làm nhà gỗ và xây công trình phụ trên đất. Nay, Tòa án giải quyết việc tranh chấp giữa các con ông Trần U với ông Nguyễn Thế B, vợ chồng ông, bà không đề nghị Tòa giải quyết theo pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2016/DSST ngày 21/6/2016, Tòa án nhân dân huyện B:

Áp dụng các Điều 25, Điều 32a, khoản 1 Điều 35, Điều 131 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 127, Điều 128, Điều 137 và Điều 219 của Bộ luật dân sự; Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị L, ông Trần Ch, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị L2, bà Trần Thị L3, bà Trần Thị M và anh Trần Hòa Ph.

- Tuyên bố Hợp đồng chuyển đổi đất ngày 08/3/1995, giữa ông Trần U với ông Nguyễn Thế B bị vô hiệu.

- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 3012/2007, giữa ông Nguyễn Thế B với ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B bị vô hiệu.

- Hủy quyết định số 2576/QĐ-UBND ngày 28/12/2012 của UBND huyện B, tỉnh Đắk Lắk, về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BK 002488 cho ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B.

- Buộc ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B phải có trách nhiệm giao trả lại cho gia đình nguyên đơn diện tích đất 249 m2 ở thôn 10, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, tại thửa số 01, tờ bản đồ 00; vị trí: Đông giáp đường tỉnh lộ 1, Tây giáp đường thôn, Bắc giáp đất cây xăng Mẫn Linh, Nam giáp đất ông Trưởng.

- Bà Trần Thị L, ông Trần Ch, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị L2, bà Trần Thị L3, bà Trần Thị M và anh Trần Hòa Ph có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, kê khai cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

- Buộc bà Trần Thị L, ông Trần Ch, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị L2, bà Trần Thị L3, bà Trần Thị M và anh Trần Hòa Ph có trách nhiệm thanh toán số tiền 28.980.000 đồng cho vợ chồng ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B.

- Ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B có quyền khởi kiện anh Nguyễn Thế B1 là người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Thế B thành một vụ kiệc khác.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí, xử lý tạm ứng án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ngày 16/7/2016, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B kháng cáo toàn bộ bản án.

- Ngày 08/7/2016, anh Nguyễn Thế B1 kháng cáo, không đồng ý bản án sơ thẩm và số tiền án phí dân sự sơ thẩm; yêu cầu xem xét lại đối tượng liên quan đến việc thừa kế.

- Tại Quyết định kháng nghị số 589/QĐKNPTDS-P9 ngày 20/7/2016, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk hủy bản án sơ thẩm; chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 196/2016/DSPT ngày 06/12/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk:

- Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk; sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2016/DSST ngày 21/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện B.

- Không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B.

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần vụ án đối với đơn kháng cáo của anh Nguyễn Thế B1.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị L, ông Trần Ch, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị L2, bà Trần Thị L3, bà Trần Thị M và anh Trần Hòa Ph.

- Tuyên bố Hợp đồng chuyển đổi đất ngày 08/3/995 giữa ông Trần U với ông Nguyễn Thế B vô hiệu.

- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/12/2007 giữa ông Nguyễn Thế B với ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B bị vô hiệu.

- Công nhận diện tích đất 249 m2 (đất ở: 75 m2, đất nông nghiệp: 174 m2) ở thôn 10, xã Tân tiến, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, tại thửa 01, tờ bản đồ 00, GCNQSDĐ số: BK 002488 cấp ngày 28/11/2012 mang tên Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B. Vị trí: Đông giáp đường tỉnh lộ 1, Tây giáp đường thôn, Bắc giáp đất cây xăng Mẫn Linh, Nam giáp đất ông Trưởng là thuộc quyền sở hữu của hộ ông Trần U (Trần U đã chết) và các đồng nguyên đơn bà Trần Thị L, ông Trần Ch, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị L2, bà Trần Thị L3, bà Trần Thị M và anh Trần Hòa Ph.

- Giao cho ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B được quyền sử dụng, sở hữu diện tích đất 249 m2 nêu trên. Buộc ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B phải thanh toán cho các đồng nguyên đơn bà Trần Thị L, ông Trần Ch, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị L2, bà Trần Thị L3, bà Trần Thị M và anh Trần Hòa Ph, trị giá lô đất theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết tranh chấp số tiền 500.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án phúc thẩm còn quyết định án phí, chi phí tố tụng và nghĩa vụ thi hành án.

- Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 02/2019/KN-DS ngày 04/12/2019, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 196/2016/DSPT ngày 06/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2016/DS-ST ngày 21/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện B; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa Giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Ông Trần U được Ủy ban nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk cấp một thửa đất, có diện tích 1.100 m2 (Giấy xác nhận quyền sử dụng đất số 102/ĐK-TK-RĐ ngày 06/3/1995). Ngày 08/3/1995, ông Trần U có Đơn xin phép đổi đất với ông Nguyễn Thế B và ông Võ Thành V, được UBND xã xác nhận, theo đó: Ông Trần U giao cho ông Nguyễn Thế B 250 m2 (5 m x 50 m) và ông Võ Thành V 250 m2 (5 m x 50 m) đất ở tại thôn Tân Tiến, xã Cuôr Knia, thị xã Buôn Ma Thuột (nay là thôn 10, xã T, huyện B); ông B giao cho Trần U 1 ha đất rẫy tại thôn Tân Lợi, xã Cuôr Knia, thị xã Buôn Ma Thuột. Như vậy, giao dịch dân sự giữa ông Trần U và ông Nguyễn Thế B diễn ra từ rất lâu và được thực hiện xong, các bên đã nhận đất và không có tranh chấp. Nay, ông Nguyễn Thế B đã được UBND huyện B quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất đổi nêu trên, nên không xem xét lại tính có hiệu lực của giao dịch này.

. Ngày 26/6/1997, do không có người làm nên ông Trần U viết Giấy sang lại diện tích 01 ha đất rẫy lại cho ông Nguyễn Thế B, với giá là 20 chỉ vàng (có chữ ký của ông B và vợ là bà Hồ Thị Thảnh). Sau đó, ông B đã nhiều lần viết giấy hẹn trả vàng (vào các năm 1999, 2000, 2002). Ngày 15/02/2003, do không có vàng để trả nên ông B viết giấy trả lại cho ông Trần Ch (con ông Trần Uân) 250 m2 đất (5 m x 50 m) ở tại thôn Tân Tiến, nhưng trên thực tế ông Ch chưa nhận đất và bà Nguyễn Thị T (vợ sau của Trần U) vẫn tiếp tục đòi vàng đối với ông B; do đó, có cơ sở để khẳng định bà T cũng không đồng ý việc trả lại đất của ông B.

Ngày 23/12/2003, UBND huyện B ban hành Quyết định số 1301/QĐ-UB cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là Giấy CNQSDĐ) cho ông Nguyễn Thế B đối với thửa đất số 148, tờ bản đồ 18, diện tích 250 m2 đất ở, tại thôn Tân Tiến, xã Cuôr Knia, huyện B. Ngày 26/10/2007, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Thế B viết Giấy thỏa thuận, có nội dung ông B sẽ trả cho bà T 25 chỉ vàng vào ngày 31/11/2007. Như vậy, giao dịch ngày 26/6/1997, trên thực chất là hợp đồng chuyển nhượng đất. Tuy ban đầu thiếu chữ ký của bà T (là vợ Trần U), nhưng ngày 26/10/2007, việc bà T đã ký thỏa thuận chấp nhận để ông B phải trả thêm 05 chỉ vàng thành 25 chỉ vàng, chứng tỏ bà T đã biết và đồng ý giao dịch trên, nên giao dịch này không bị vô hiệu với lý do này, cũng như không bị vô hiệu về hình thức, bởi lẽ theo điều khoản chuyển tiếp được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 và Điều 132 của Bộ luật Dân sự năm 2015, thì thời hiệu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức đối với giao dịch trên đã hết; đồng thời, tại khoản 2 Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó”.

. Đối với Giấy trả lại đất ngày 15/02/2003, do ông Nguyễn Thế B viết cho anh Trần Ch, lúc đó ông B chưa được cấp Giấy CNQSDĐ; ngoài ra, việc trả lại đất này không có sự nhất trí của bà Hồ Thị Th (vợ ông B), cũng như không có sự thỏa thuận của bà Nguyễn Thị T (là người thuộc hàng thừa kế của ông Trần Uân); đồng thời, trên thực tế anh Chính, bà T cũng chưa tiếp nhận đất, do vậy Giấy trả lại đất trên không có hiệu lực.

Ngày 30/12/2007, ông Nguyễn Thế B chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho vợ chồng ông Đặng Xuân Tr và bà Đinh Thị B (sau khi ông B được cấp Giấy CNQSDĐ). Ông Trưởng, bà Bưởi đã nhận đất, làm nhà kiên cố, ở ổn định, lâu dài và đã được UBND huyện B cấp Giấy CNQSDĐ vào ngày 28/11/2012. Như vậy, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Thế B với ông Đặng Xuân Trưởng, bà Đinh Thị B có hiệu lực, nhưng Tòa án cấp án sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hợp đồng vô hiệu là không có cơ sở. Mặt khác, mặc dù Tòa án hai cấp tuyên các hợp đồng vô hiệu, nhưng lại không đề cập đến hậu quả pháp lý tất yếu phải được xem xét theo giao dịch dân sự khi bị vô hiệu, đó là các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền (hậu quả này không phụ thuộc vào yêu cầu của đương sự).

Do ông Nguyễn Thế B chưa thanh toán 25 chỉ vàng như ông đã thỏa thuận với ông Trần U và bà Nguyễn Thị T là vi phạm nghĩa vụ trả nợ; lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm cần phải đánh giá đúng sự việc, từ đó giải quyết vấn đề về nghĩa vụ trả nợ giữa các bên.

. Ngoài những vấn đề nêu trên, thì quá trình giải quyết vụ án, Tòa án hai cấp còn vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và còn thiếu sót như: Ngày 07/6/2013, ông Đặng Xuân Tr đã cắt một phần thửa đất 120 m2/249 m2 chuyển nhượng cho ông Hoàng Văn Ích (Bích), với giá 32.000.000 đồng. Tòa án nhận định và tuyên các hợp đồng trên vô hiệu mà không đưa ông Ích vào tham gia tố tụng, với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ích; UBND huyện B cấp Giấy CNQSDĐ số BK 002488 ngày 28/11/2012 cho ông Đặng Xuân Trưởng, bà Đinh Thị B, với diện tích 249 m2 nhưng Tòa án tuyên giao 250 m2, trong khi chưa làm rõ lý do diện tích đất chênh lệch là thiếu sót. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tuyên hủy Quyết định số 3576/QĐ-UBND ngày 28/11/2012 của UBND huyện B về việc cấp Giấy CNQSDĐ số BK 002488 ngày 28/11/2012 cho ông Đặng Xuân Tr mà không đề cập đến việc xử lý Giấy CNQSDĐ là chưa giải quyết triệt để vụ án.

. Để giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, hủy bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 343 và Điều 345 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 02/2019/KN-DS ngày 04/12/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

2. Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 196/2016/DSPT ngày 06/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2016/DS-ST ngày 21/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, theo đúng quy định pháp luật.

4. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định.

Cỡ chữ