vanban.org

Quyết định 11/2019/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Nguyễn Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nguyễn Văn T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Số: 11 /2019/QĐ-TA
Đ , ngày 15 tháng 02 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đào Thị Thúy Thành

2. Thư ký phiên họp: Ông Bùi Minh Thắng

Ngày 15 tháng 02 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ , tỉnh Đ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 12/QĐ - TA ngày 29 tháng 01 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn T;

Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 07/02/1991;

Chứng minh nhân dân số: 040423405; Cấp ngày 04/07/2011; Nơi cấp: Công an tỉnh Đ;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; T độ văn hoá: 07/12 phổ thông;

Nơi ĐKHKTT: Đội 2, xã T, huyện Đ, tỉnh Đ;

Nơi ở hiện nay: Lang thang, không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không;

Tiền án, tiền sự: Không

Con ông: Nguyễn Văn T; Con bà: Hà Thị L (Đã chết);

Số thụ lý: 11/2019/TA-TLHS ngày 29/01/2019;

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Đ: Bà Trương Thị Phương Anh - Cán bộ.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ : Ông Phạm Văn Năng - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Nguyễn Văn T là đối tượng lang thang không có nơi cư trú ổn định. Ngày 14/01/2019, Nguyễn Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường T lập biên bản về hành vi vi phạm hành chính. Ngày 14/01/2019 có kết luận của Trạm y tế phường T, thành phố Đ , tỉnh Đ: Xác định Nguyễn Văn T dương tính và lệ thuộc vào các chất ma túy. Ngày 15/01/2019 UBND phường T thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.

* Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến:

Nguyễn Văn T là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi hành chính, là đối tượng Lg thang, nên không bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, mặc dù ý thức được tác hại của việc sử dụng ma túy, nhưng vẫn nghiện ma túy, nên cần có biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để Nguyễn Văn T tiếp tục được cai nghiện. Vì vậy, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là từ 12 đến 18 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ , tỉnh Đ có ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thủ tục pháp lý hồ sơ của Nguyễn Văn T đầy đủ, đảm bảo về thời hiệu, thẩm quyền và T tự. Quá T thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và T tự, thủ tục tiến hành phiên họp đã thực hiện đúng theo quy định của pháp lệnh T tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Nguyễn Văn T là người có đầy đủ năng lực hành chính, có độ tuổi trên 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 12 đến 18 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và ý kiến của những người tham gia phiên họp thấy rằng:

Tài liệu trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T đảm bảo về thời hiệu và T tự theo quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính,

Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định, đã được học hết lớp 7/12 phổ thông, là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, mặc dù nhận thức được tác hại của ma túy, mà vẫn còn nghiện, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn phường T nói riêng và thành phố Đ nói chung, hành vi của Nguyễn Văn T còn tiếp tay cho những đối tượng chuyên buôn bán các chất ma túy tồn tại và phát triển. Nên cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để Nguyễn Văn T có điều kiện cai nghiện trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Nguyễn Văn T không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nào.

Đối với ý kiến của đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Đ và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ , tỉnh Đ tại phiên họp là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 20, 22, 29, 30, 31, 32 của Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về T tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Nguyễn Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Nguyễn Văn T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Đ , tỉnh Đ có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ , tỉnh Đ có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Áp dụng khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính Công an thành phố Đ , Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Đ , có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ