vanban.org

Quyết định 11/2018/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Bé H.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn L là người có khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chỉ định ông Nguyễn Bé H là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn L. Ông H có quyền thực hiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông L, ngoài ra ông H còn phải có nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Ông H yêu cầu tuyên bố ông H1 có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Bé H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/2018/QĐST-DSHuyện Trần Văn Thời, ngày 21 tháng 11 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Từ Thanh Nhung.

Thư ký phiên họp: Ông Trương Huỳnh Hải - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, tham gia phiên họp: Bà Vũ Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 304/2018/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 63/2018/QĐST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Bé H, sinh năm 1980

Địa chỉ: Ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1976

Địa chỉ: Ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Các đương sự có mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Nguyễn Bé H, trình bày: Ông H và ông L là anh em ruột là con ruột của ông Nguyễn Tấn Đ (chết), khi ông Đ chết có để lại di chúc phân chia di sản thừa kế, ông H và ông L là những người được ông Đ phân chia di sản thừa kế, và di sản thừa kế có tranh chấp với người khác. Hiện nay, ông H đã khởi kiện tranh chấp đất và được Tòa án thụ lý vụ án dân sự số 117/2018/TLST-DS ngày 28/5/2018. Ông L được Tòa án xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, nhưng ông L có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi nên không đủ điều kiện để tự mình tham tố tụng được. Nay yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; đồng thời chỉ định ông H là người giám hộ cho ông L.

Ông Nguyễn Văn L, trình bày: Ông L là anh ruột của ông H là con ruột của ông Nguyễn Tấn Đ (chết), hiện nay ông có khó khăn trong nhận thức và làm chủ được hành vi, đồng ý ông Nguyễn Bé H là người giám hộ cho ông L.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu, ý kiến: Thẩm phán, thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Xét yêu cầu của ông H là có căn cứ, nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông H tuyên bố ông Nguyễn Văn L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, đồng thời chỉ định ông H là người giám hộ cho ông L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau, nhận định:

Xét về thẩm quyền của Tòa án: Các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện T, tỉnh Cà Mau, ông Nguyễn Bé H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, do đó Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau thu lý giải quyết là đúng theo quy định tại các Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về quyền yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: Ông H và ông L là anh em ruột được thể hiện tại xác nhận ngày 02/11/2018 của UBND xã K, hiện nay ông H, ông L có tranh chấp phần di sản thừa kế là quyền sử dụng đất với người khác và đã được Tòa án thụ lý giải quyết là có thật, do đó ông H là người có quyền yêu cầu tuyên bố ông L có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là phù hợp với Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của ông Nguyễn Bé H: Ông Nguyễn Văn L là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự thụ lý số 117/2018/TLST-DS ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau, sự việc tranh chấp là quyền sử dụng đất đối phần di sản thừa kế mà ông H và ông L được ông Đ phân chia theo di chúc; hiện nay ông L không thể tự mình tham gia tố tụng trong vụ án được vì hiện nay có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, ông H là em ruột của ông L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông L là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 161/2018/KLGĐTC ngày 07/8/2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ thuộc Bộ y tế kết luận đối với ông Nguyễn Văn L: Về y học có bệnh lý tâm thần, rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ (F31.1-ICD10); về năng lực hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần, có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Do đó, có căn cứ xác định ông L là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Đối với người giám hộ cho ông L, xét thấy ông H và ông L là anh em ruột không có mâu thuẫn gì và có chung quyền và nghĩa vụ trong vụ án dân sự đang được Tòa án thụ lý, nên chỉ định ông H giám hộ cho ông L là đúng.

Từ những nhận định và những căn cứ nêu trên xét thấy yêu cầu của ông H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận và phù hợp với các Điều 23, Điều 57, Điều 58 Bộ luật dân sự; Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về lệ phí giải quyết việc dân sự: Áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Ông H phải chịu 300.000 đồng theo quy định của pháp luật, ông H đã dự nộp tạm ứng lệ phí trước 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Cà Mau, nên cần xem xét chuyển thu đối trừ.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 23, Điều 57, Điều 58 Bộ luật dân sự; Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 40, Điều 149, Điều 361, Điều 370, Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 4, khoản1 Điều 35, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Bé H.

- Tuyên bố ông Nguyễn Văn L là người có khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

- Chỉ định ông Nguyễn Bé H là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn L. Ông H có quyền thực hiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông L, ngoài ra ông H còn phải có nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông H phải nộp 300.000 đồng, ông H có dự nộp tạm ứng lệ phí trước 300.000 đồng theo lai thu số 0008881 ngày 02/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: .

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự này có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Trường hợp không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự này thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ nhận được quyết định này hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo và niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau có quyền kháng nghị quyết định giải quyết dân sự này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ