- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Quyết định giải quyết việc dân sự Q"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố ông Phạm T, sinh năm 1934, nơi cư trú cuối cùng: Cụm 3, phường C, thị xã Q (nay là Tổ 10, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) là đã chết từ ngày 01/5/1980.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 16 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/2018/QĐST-DS | TP. Quảng Ngãi, ngày 11 tháng 12 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Hồng Ánh.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Võ Đại Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Bà Đinh Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 269/2018/TLST-VDS ngày 18 tháng 7 năm 2018 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sở thẩm giải quyết việc dân sự số: 294/2018/QĐST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1934, địa chỉ: Tổ 10, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm: 1971, địa chỉ: Số 90/4 P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 16/5/2018), có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 21/6/2018 và tại phiên họp, người yêu cầu là bà Nguyễn Thị Q (do bà Nguyễn Thị Thùy L đại diện) trình bày: Ông Phạm T và bà Nguyễn Thị Q kết hôn với nhau từ trước năm 1975. Quá trình chung sống, đến tháng 02/1975, ông Phạm T đã biệt tích trong lúc chiến tranh loạn lạc. Gia đình bà Q cũng đã tổ chức tìm kiếm nhiều nơi, đăng thông báo tìm tiếm trên các phương tiện truyền thông nhưng đến nay vẫn không có tin tức xác thực về ông T là còn sống.
Nay, bà Q yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm T, sinh năm 1934, nơi cư trú cuối cùng: Cụm 3, phường C, thị xã Q (nay là Tổ 10, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) là đã chết.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Q về việc tuyên bố ông Phạm T đã chết. Bà Q phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi nhận định:
Theo Giấy khai sinh số 67 ngày 18/6/1964 do Ủy ban hành chánh xã B, quận B, tỉnh Quảng Ngãi cấp cho bà Phạm Thị Lệ H thể hiện, bà Nguyễn Thị Q là vợ của ông Phạm T nên bà Nguyễn Thị Q là người có quyền yêu cầu tuyên bố ông Phạm T là đã chết theo quy định tại Điều 391 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo xác nhận của Công an phường C ngày 19/6/2018 thì Sổ hộ khẩu của bà Q không có tên ông Phạm T, điều này là phù hợp với trình bày của bà Q là vào tháng 02/1975, ông Phạm T đã biệt tích trong lúc chiến tranh loạn lạc. Gia đình bà Q đã tổ chức tìm kiếm nhiều nơi, đăng thông tin tìm kiếm ông T trên các phương tiện truyền thông nhưng vẫn không có tin tức xác thực ông T là còn sống. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án cũng đã đăng, phát thông báo tìm kiếm ông Phạm T theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực là ông Phạm T còn sống. Tại điểm b khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự quy định, người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp “Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống”. Vì vậy, việc bà Q yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm T đã chết là có căn cứ, được chấp nhận.
Về xác định ngày chết của ông Phạm T: Thời điểm chiến tranh kết thúc được xác định là ngày 30/4/1975, do đó, ngày chết của ông Phạm T là ngày 01/5/1980.
Bà Q phải chịu 2.883.000 đồng chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm ông Phạm T trên các phương tiện thông tin đại chúng (đã nộp xong) theo quy định tại khoản 2 Điều 385 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Q là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn lệ phí Tòa án nên được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, 2 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự; các Điều 371, 372, 391, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 16 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:
1. Tuyên bố ông Phạm T, sinh năm 1934, nơi cư trú cuối cùng: Cụm 3, phường C, thị xã Q (nay là Tổ 10, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) là đã chết từ ngày 01/5/1980.
2. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Phạm T đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Phạm T được giải quyết như đối với người đã chết.
Quan hệ tài sản của ông Phạm T được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Phạm T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Bà Nguyễn Thị Q phải chịu 2.883.000 đồng (Hai triệu tám trăm tám mươi ba nghìn đồng) chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm ông Phạm T trên các phương tiện thông tin đại chúng (đã nộp xong).
4. Miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho bà Nguyễn Thị Q.
5. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND TP. Quảng Ngãi; - Chi cục THADS TP. Quảng Ngãi; - UBND P. C, TP. Quảng Ngãi; - Người yêu cầu; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Bùi Thị Hồng Ánh |