- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị V - Nguyễn Thị T"
- Tòa quyết gì? GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 1095/2018/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với!thành!phần!Hội!đồng!phúc!thẩm!gồm!có:!
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Quỳnh Châu
Các Thẩm phán:
1. Ông DTuấn Vinh
2. Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huyền – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Yến Oanh - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 27/2018/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Quận 2 đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1966
Địa chỉ: Số A Đặng Dung, Phường Đ, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: - Ông Nguyễn Anh T – đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 6143 ngày 10/12/2014).
- Ông Nguyễn Hoàng D – đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 27/11/2017).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1955
Địa chỉ: Số A ấp 1, phường P, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: - Ông Huỳnh Anh T – đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 886 ngày 03/02/2015).
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Hoàng Công S
3.2 Bà Đoàn Ngọc T
Cùng địa chỉ: Số B, khu phố 4, phường P, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại đơn kháng cáo ngày 28/9/2018 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị V có nội dung đề nghị Tòa án dân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 27/2018/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2018 và Quyết định sửa chữa bổ sung Quyết định sơ thẩm số 71/2018/QĐ-SCBSQĐ ngày 17/9/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh với lý do: Bà đã ủy quyền cho ông Nguyễn Hoàng D thay mặt bà tham gia tố tụng trong vụ án theo hợp đồng ủy quyền số 25147 ngày 27/11/2017. Ngày 28/11/2017, ông D đã trực tiếp lên Tòa án nhân dân Quận 2 để nộp Hợp đồng ủy quyền và bắt đầu thực hiện công việc ủy quyền là sao chụp toàn bộ hồ sơ vụ án. Bà cho rằng mọi liên lạc trao đổi của Tòa án với nguyên đơn phải thông qua đại diện ủy quyền là ông D bắt đầu từ ngày 28/11/2017. Việc Tòa án không liên lạc với ông D theo địa chỉ bà đã cung cấp mà lấy lý do không liên lạc được với ông Nguyễn Anh T để đình chỉ giải quyết vụ án là vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà. Tại phiên họp phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Về thời hạn kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, kháng cáo của bà Nguyễn Thị V làm trong hạn luật định. Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 27/2018/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2018 và Quyết định sửa chữa bổ sung Quyết định sơ thẩm số 71/2018/QĐ-SCBSQĐ ngày 17/9/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
XÉT THẤY:
Ngày 21/12/2014, bà Nguyễn Thị V có đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị T, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị T thực hiện đúng hợp đồng đặt cọc và cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 01/3/2011 giữa bà và bà Nguyễn Thị T. Ngày 28 tháng 02 năm 2018, Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 27/2018/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2018 với lý do: Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Anh T cung cấp địa chỉ liên lạc tại số 133/A Lê Hồng Phong, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ xác nhận của công an Phường X, Quận Y thì ông T có đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng không cư trú tại địa chỉ này và đã chuyển về địa chỉ 1/A Độc Lập, phường T, quận P. Tuy nhiên, theo xác minh của công an phường T, quận P thì ông T không cư trú tại đây. Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết vụ án. Xét thấy, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào ngày 25/11/2018, Tòa án nhân dân Quận 2 triệu tập nguyên đơn bà Nguyễn Thị V đến Tòa làm việc, bà V không đến Tòa. Cùng ngày ông Nguyễn Hoàng D là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án Hợp đồng ủy quyền số 25147 ngày 27/11/2017 với nội dung thay mặt bà Nguyễn Thị V tham gia tố tụng trong vụ án tại Tòa án nhân dân Quận 2 và Tòa án nhân dân các cấp. Đồng thời ông D làm đơn xin sao chụp hồ sơ vụ án, thông báo địa chỉ liên lạc và đã được Thẩm phán thụ lý hồ sơ đồng ý cho sao chụp hồ sơ. Ngoài ra, cùng thời điểm này Tòa án nhân dân Quận 2 cũng lập biên bản ghi nhận sự việc với ông Nguyễn Hoàng D xác định: “Bà Nguyễn Thị V có ông Nguyễn Hoàng D là đại diện diện theo ủy quyền cam kết bổ sung văn bản hủy thủ tục ủy quyền đối với ông Nguyễn Anh T trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập biên bản này”. Như vậy, kể từ ngày 28/11/2018, Tòa án nhân dân Quận 2 đã chấp nhận ông Nguyễn Hoàng D với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị V. Trong trường hợp nguyên đơn chưa cung cấp văn bản hủy thủ tục ủy quyền đối với ông Nguyễn Anh T thì nguyên đơn vẫn tồn tại song song hai đại diện ủy quyền là ông Nguyễn Anh T và ông Nguyễn Hoàng D vì pháp luật không cấm trường hợp này.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định nguyên đơn bà Nguyễn Thị V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết vụ án là chưa chính xác, trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Anh T đã lên Tòa làm việc, trình bày bản tự khai và cung cấp địa chỉ tại 133/36 Lê Hồng Phong, Phường 3, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Tòa án vẫn phải tiến hành tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng tại địa chỉ cư trú cuối cùng của đương sự đã cung cấp. Đồng thời Tòa án phải tiến hành tống đạt văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Hoàng D là đại diện ủy quyền của bà V. Ngoài ra, áp dụng tương tự tại khoản 5 Mục IV của công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 có hướng dẫn: “…trường hợp bị đơn đã ủy quyền cho người khác đại diện cho mình tham gia tố tụng thì Tòa án chỉ tống đạt cho người đại diện của bị đơn mà không phải tống đạt cho bị đơn. Việc tống đạt cho người đại diện của bị đơn được thực hiện theo quy định tại Chương X của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án chỉ tống đạt cho bị đơn khi việc ủy quyền tham gia tố tụng giữa bị đơn và người đại diện của họ chấm dứt hoặc việc tống đạt liên quan đến những nội dung không thuộc phạm vi ủy quyền”.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 27/2018/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2018 và Quyết định sửa chữa bổ sung Quyết định sơ thẩm số 71/2018/QĐ-SCBSQĐ ngày 17/9/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Như đã phân tích nêu trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Do đó, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 27/2018/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2018 và Quyết định sửa chữa bổ sung Quyết định sơ thẩm số 71/2018/QĐ-SCBSQĐ ngày 17/9/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Về án phí dân sự sơ thẩm: Được giải quyết lại khi cấp sơ thẩm giải quyết vụ án. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm, căn cứ khoản 3 Điều 29 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) cho bà Nguyễn Thị V theo biên lai thu số 0015686 ngày 01/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì các lẽ trên; Căn cứ điểm c khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH: 1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị V . Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 27/2018/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2018 và Quyết định sửa chữa bổ sung Quyết định sơ thẩm số 71/2018/QĐ-SCBSQĐ ngày 17/9/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn – bà Nguyễn Thị V với bị đơn - bà Nguyễn Thị T. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 2 để tiếp tục giải quyết. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Được giải quyết lại khi cấp sơ thẩm giải quyết vụ án. 3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) cho bà Nguyễn Thị V theo biên lai thu số 0015686 ngày 01/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ban hành. Nơi!nhận:!
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
- TANDTC;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND Quận 2;
- Chi cục THADS Quận 2;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Thị Quỳnh Châu