- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Long An (xã T, huyện T, tỉnh Long An) đối với Nguyễn Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979; Địa chỉ đăng ký thường trú: 37/51, Khóm A, Phường E, Thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Thông tư số 05/2018/TT-BCA Quy định việc thu thập tài liệu,…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 109/QĐ-TA | C, ngày 13 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Như Q.
2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Trần Tấn Huy.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 92/QĐ-TA ngày 06 tháng 12 năm 2024 đối với:
Người bị đề nghị: Nguyễn Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979;
Tên gọi khác: không
Số định danh cá nhân: 095079007948
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 4/12
Nguyên quán: thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ đăng ký thường trú: 37/51, Khóm A, Phường E, Thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ tạm trú: (Nhà trọ T1) ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền án: Không.
Tiền sự:
Ngày 20/5/2024, bị Trưởng Công an xã L xử phạt 1.500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quyết định số 37/QĐ-XPHC (Chưa nộp phạt). Con ông Nguyễn Văn Ơ (đã chết) và bà Phạm Thị Đ.
Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Người đề nghị: Bà Nguyễn Thị Kim L – Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Ông Phạm Quốc Huy – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ vụ việc và bản tường trình của người vi phạm thể hiện: Ngày 20/5/2024, Nguyễn Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã L mời làm việc và kiểm tra xét nghiệm chất ma túy cho kết quả dương tính. Công an xã lập biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định số 37/QĐ-XPHC ngày 20/5/2024, xử phạt bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đồng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L ban hành quyết định số 1622/QĐ-UBND ngày 20/5/2024 về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Văn T, thời gian 01 năm kể từ ngày 20/5/2024.
Ngày 26/5/2024, Nguyễn Văn T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 27/5/2024 Công an xã L lập biên bản xét nghiệm chất ma túy cho kết quả dương tính và theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 27/5/2024 của Bệnh viện Đ1 đối với Nguyễn Văn T kết luận “Có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng: Ketamin”. Ngày 27/5/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L ban hành quyết định số 1624/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Văn T đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Ngày 31/5/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L ban hành quyết định số 1664/QĐ-UBND về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Nguyễn Văn T từ ngày 31/5/2024 đến ngày 01/6/2025.
Ngày 15/11/2024, Nguyễn Văn T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 18/11/2024, Công an xã L tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Văn T cho kết quả dương tính với ma túy.
Ngày 19/11/2024, Công an xã L ra thông báo số 45/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
Ngày 22/11/2024, Ủy ban nhân dân xã L ra văn bản số 3516/ĐN-CNBB về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
Ngày 03/12/2024, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C có văn bản số 2115/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện C xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
* Tại phiên họp:
Đại diện người đề nghị phát biểu ý kiến: Nguyễn Văn T đang trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, tự nguyện cai nghiện tại gia đình, cộng đồng nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó đề nghị xem xét đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng đối với Nguyễn Văn T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến: Tòa án đã thực hiện đầy đủ các bước tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án. Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T là có cơ sở. Do đó, đề nghị Chủ tọa phiên họp căn cứ vào quy định của pháp luật chấp nhận đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T với thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.
XÉT THẤY:
Về tố tụng: Nguyễn Văn T đã được nhận đầy đủ Thông báo thụ lý về việc thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án quyết định tiến hành phiên họp vắng mặt Nguyễn Văn T.
Về trình tự, thủ tục và tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Nguyễn Văn T là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có nơi cư trú ổn định. Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy, đã đăng ký cai nghiện ma túy tại tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 1664/QĐ-UBND ngày 31/5/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L. Tuy nhiên, trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện, Nguyễn Văn T bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an xã lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 18/11/2024 và đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân xã L lập hồ sơ đề nghị Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T. Hồ sơ thể hiện đầy đủ: Bảng tóm tắt lý lịch và Bảng tường trình của Nguyễn Văn T, Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của cơ quan có thẩm quyền, Văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Chủ tịch Ủy ban nhân xã L. Như vậy, việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T là đúng đối tượng, đúng trình tự thủ tục theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 23, Điều 27, khoản 2 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; điểm c khoản 1 Điều 33, Điều 40, Điều 41, Điều 42 Nghị định 116/2021/NĐCP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ; Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07/02/2018; Điều 95, Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về thời hiệu: Tính từ ngày Nguyễn Văn T thực hiện hành vi vi phạm lần cuối (ngày 15/11/2024) đến ngày Tòa án mở phiên họp là chưa quá 03 tháng nên còn thời hiệu xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về thẩm quyền: Thẩm quyền lập hồ sơ, thẩm quyền đề nghị theo đúng quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về nội dung: Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy, đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có nơi cư trú ổn định nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Nguyễn Văn T đang trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng thì lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Điều đó cho thấy Nguyễn Văn T không thể tự mình đoạt tuyện với ma túy nên cần phải áp dụng cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T. Do đó, để tạo điều kiện cai nghiện, điều trị cắt cơn nghiện ma túy, học tập và rèn luyện thấy cần phải áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc cho Nguyễn Văn T thời gian 24 tháng là phù hợp với đề nghị của Trưởng Phòng Lao động thương binh xã hội huyện C và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào khoản 5 Điều 2; khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 7; điểm b khoản 1 Điều 10; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 23, Điều 27, khoản 2 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy năm 2021.
Căn cứ vào Điều 3, Điều 8, Điều 12, Điều 16, Điều 20, Điều 21, Điều 23; Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 33, Điều 40, Điều 41, Điều 42 của Nghị định 116/2021/NĐCP ngày 21/12/2021;
Căn cứ vào Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07/02/2018;
Căn cứ vào Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Long An (xã T, huyện T, tỉnh Long An) đối với Nguyễn Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979; Địa chỉ đăng ký thường trú: 37/51, Khóm A, Phường E, Thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Địa chỉ tạm trú: (Nhà trọ T1) ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
2. Thời gian chấp hành là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc. 3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:
Người bị đề nghị có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Người đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện C có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C phối hợp với Công an huyện C đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện C; - Trưởng Phòng LĐ-TBXH huyện; - Trưởng Công an xã nơi đề nghị; - Công an huyện C; - Người bị đề nghị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Như Quyền |