vanban.org

Quyết định 109/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng Lan A.

Chị Phùng Lan A được ly hôn anh Phạm Hoài V. Con chung: Xác nhận chị Phùng A và anh Phạm Hoài V có 02 con chung là Phạm Vũ N, sinh ngày 13/9/2003 và Phạm Vân L, sinh ngày 19/9/2005. Giao cả hai con chung cho chị Phùng Lan A trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc chị A không yêu cầu anh Phạm Hoài V cấp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị A xin ly hôn anh V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng Lan A.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 05-02-2021
V/v: tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Lệ Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Cờ

2. Bà Ngô Thị Kim Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 827/2020/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2020 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phùng Lan A - sinh năm 1975, Đăng ký hộ khẩu thường trú: phố H, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: chung cư số 10 phố H, quận H, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

- Bị đơn: Anh Phạm Hoài V - sinh năm 1975, Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: phố H, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 24/7/2020 và các văn bản trình bày tại Tòa, nguyên đơn - chị Phùng Lan A trình bày:

Chị và anh Phạm Hoài V kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15/11/2001 tại Ủy ban nhân dân phường C, quận H, Thành phố Hà Nội.

Sau kết hôn đến tháng 9/2016, anh chị chung sống tại phố H, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Từ tháng 9/2016 đến nay, chị và hai con chuyển đến sống tại địa chỉ chung cư số 10 phố H, quận H, Thành phố Hà Nội, còn anh V vẫn ở tại địa chỉ trên.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 01/2004 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V sử dụng rượu bia nhiều, thường xuyên say xỉn, không quan tâm, chăm sóc vợ con. Mâu thuẫn giữa anh chị kéo dài và đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không cải thiện được tình cảm vợ chồng. Chị và anh V đã sống ly thân mỗi người một nơi từ tháng 9/2016 đến nay.

Nay chị A xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Hoài V.

- Con chung: Chị A xác nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Phạm Vũ N, sinh ngày 13/9/2003 và cháu Phạm Vân L, sinh ngày 19/9/2005. Ly hôn, chị xin nuôi cả hai con và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị A trình bày chị và anh V không có khoản nợ nào chung (không vay nợ ai và không cho ai vay nợ) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài các yêu cầu trên, chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Bị đơn - anh Phạm Hoài V: Mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh V đều vắng mặt, không đến Tòa thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa:

Chị A xin vắng mặt tại phiên tòa và cam đoan vẫn giữ nguyên các ý kiến về việc ly hôn, về con chung, về tài sản chung và về nợ như chị đã trình bày nêu trên.

Anh Phạm Hoài V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phùng Lan A có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội giải quyết vụ án hôn nhân gia đình giữa chị và anh Phạm Hoài V. Anh V có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội; căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng Lan A đối với anh Phạm Hoài V. Con chung: Xác nhận chị A và anh V có 02 con chung là: Phạm Vũ N, sinh ngày 13/9/2003 và Phạm Vân L, sinh ngày 19/9/2005; giao hai con chung của anh chị cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng và không xem xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với anh V do chị A không yêu cầu giải quyết. Tài sản chung: chị A không yêu cầu giải quyết nên không xét. Về nợ chung: Chị A xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Án phí: Chị A phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng dân sự: Anh Phạm Hoài V có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện cư trú tại phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Chị Phùng Lan A có đơn xin ly hôn anh Phạm Hoài V tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa; căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết, xét xử là đúng thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ và niêm yết các văn bản tố tụng cho anh V; anh V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, chị A có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị A và anh V.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Lan A và anh Phạm Hoài V kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15/11/2001 tại Ủy ban nhân dân phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội. Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh V là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời trình bày của đương sự, người làm chứng trong vụ án thấy: Quá trình chung sống vợ chồng của chị A và anh V có phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc, anh chị đã có thời gian dài sống ly thân mỗi người một nơi.

Điều 19 Luật Hôn nhân nhân và gia đình quy định: “vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…”. Anh chị sống ly thân, không quan tâm, không chăm sóc, không có sự yêu thương, cảm thông dành cho nhau. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh V đến Toà để thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự và tham gia hoà giải theo quy định của pháp luật nhưng anh V đều vắng mặt. Toà án cũng tạo điều kiện về thời gian để anh chị chủ động hàn gắn tình cảm vợ chồng song từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay anh chị vẫn sống ly thân, không có biện pháp gì để cải thiện cuộc sống vợ chồng. Đây là lần thứ hai Tòa án thụ lý hồ sơ theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị A. Xét thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, với điều kiện, hoàn cảnh như hiện nay thì anh chị không có cuộc sống vợ chồng hạnh phúc; nhận định của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, do vậy, căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng A. Anh Phạm Hoài V không đến Toà thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, không đưa ra ý kiến, quan điểm, không có biện pháp gì cải thiện tình cảm vợ chồng nên không có căn cứ để xem xét.

Con chung: Theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện chị A và anh V có 02 con chung là: Phạm Vũ N, sinh ngày 13/9/2003 và Phạm Vân L, sinh ngày 19/9/2005. Tại đơn trình bày ngày 18/12/2020, các cháu đều xác định chị A là người đã trực tiếp nuôi dưỡng hai con trong suốt quá trình anh chị sống ly thân và cả hai con của anh chị đều có nguyện vọng xin được ở cùng với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Theo “Giấy xác nhận mức lương tháng” của cơ quan chị A cho thấy chị A có việc làm ổn định với mức thu nhập khoảng 23.000.000 đồng/tháng nên có đủ điều kiện để nuôi các con. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin nuôi hai con của chị A. Do anh V vắng mặt và chị A không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với anh V.

Tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.

Về nợ chung: Chị A xác nhận quá trình chung sống vợ chồng anh chị không có khoản vay nợ nào chung, không yêu cầu Tòa giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.

Án phí: Chị A phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Chị Phùng Lan A và anh Phạm Hoài V được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng Lan A.

Chị Phùng Lan A được ly hôn anh Phạm Hoài V.

2. Con chung: Xác nhận chị Phùng A và anh Phạm Hoài V có 02 con chung là Phạm Vũ N, sinh ngày 13/9/2003 và Phạm Vân L, sinh ngày 19/9/2005. Giao cả hai con chung cho chị Phùng Lan A trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc chị A không yêu cầu anh Phạm Hoài V cấp dưỡng nuôi con.

Anh Phạm Hoài V được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.

3. Tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị Phùng Lan A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

4. Về nợ chung: Chị Phùng Lan A xác nhận anh chị không có khoản vay nợ nào chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

5. Án phí: Chị Phùng Lan A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0014855 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Chị A đã nộp đủ tiền án phí.

Chị Phùng Lan A, anh Phạm Hoài V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ